
Sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ của châu Á vào đầu năm nay đang mất đà, kết quả tăng trưởng quý II giảm hơn so với dự kiến. Dự báo tăng trưởng của khu vực châu Á và Thái Bình Dương đã được cắt giảm xuống 4% trong năm 2022 và 4,3% năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 5,5% trong hai thập kỷ qua. Mặc dù vậy, châu Á vẫn là một điểm sáng hiếm hoi trong nền kinh tế toàn cầu ngày càng ảm đạm.
“Ba cơn gió ngược đáng gờm” đã làm tốc độ tăng trưởng kinh tế châu Á bị suy yeeys và có khả năng kéo dài trong tương lai
- Việc thắt chặt các điều kiện tài chính đang làm tăng chi phí đi vay của chính phủ và có khả năng ngày càng thắt chặt hơn khi các ngân hàng trung ương ở các nền kinh tế phát triển tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát nhanh nhất trong nhiều thập kỷ. Việc đồng tiền mất giá nhanh chóng sẽ gây nhiều khó khăn trong việc hoạch định chính sách.
- Cuộc chiến giữa Nga và Ukraine vẫn đang căng thẳng và tiếp tục gây ra sự suy giảm mạnh hoạt động kinh tế ở châu Âu. Điều này sẽ làm giảm thêm nhu cầu hập khẩu hàng hóa từ châu Á.
- Chính sách zero-covid nghiêm ngặt của Trung Quốc và các đợt đóng cửa, cùng với tình trạng bất ổn ngày càng nghiêm trọng trong lĩnh vực bất động sản, góp phần àm giảm tốc độ tăng trưởng một cách bất thường và rõ rệt, điều đó đang làm suy yếu động lực trong các nền kinh tế có liên kết.
Tốc độ tăng trưởng giảm trên diện rộng
Sau khi tăng trưởng gần bằng 0 trong quý hai, khả năng phục hồi trong nữa cuối năm của Trung Quốc khá khiêm tốn, dự kiến đạt mức tăng trưởng cả năm là 3,2% và tăng lên 4,4% vào năm tới, với giả định các hạn chế về đại dịch được nới lỏng dần.
Nhật Bản được kỳ vọng tăng trưởng sẽ không thay đổi ở mức 1,7% trong năm nay trước khi giảm xuống 1,6% vào năm sau, do nhu cầu nhập khẩu của các nước đối tác giảm. Tăng trưởng của Hàn Quốc vào năm 2022 đã được điều chỉnh lên 2,6% do tăng trưởng quý thứ hai tăng cao; nhưng đã điều chỉnh giảm xuống 2% vào năm 2023 phản ánh những khó khăn từ tác nhân bên ngoài. Nền kinh tế Ấn Độ được dự đoán khả quan, mặc dù chậm hơn so với dự kiến trước đó, 6,8% trong năm nay và 6,1% vào năm 2023, do nhu cầu bên ngoài suy yếu và thắt chặt các điều kiện tài chính và tiền tệ được cho là sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng.
Khu vức Đông Nam Á có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ. Tại Việt Nam, quốc gia đang được hưởng lợi từ tầm quan trọng ngày càng tăng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, được kỳ vọng tăng trưởng đạt 7% và điều chỉnh nhẹ trong năm tới. Philippines được dự báo sẽ tăng 6,5% trong năm nay, và mức tăng trưởng ở Indonesia và Malaysia sẽ đạt 5%
Campuchia và Thái Lan sẽ phát triển nhanh hơn vào năm 2023 với khả năng tăng trưởng du lịch nước ngoài. Tại Myanmar, quốc gia đã trải qua cuộc suy thoái sâu sắc do đảo chính và đại dịch, tăng trưởng năm nay dự kiến sẽ ổn định ở mức thấp trong bối cảnh bất ổn và nhiều khó khăn tiếp tục diễn ra.
Triển vọng có nhiều thách thức hơn đối với các thị trường biên giới châu Á khác. Sri Lanka vẫn đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, mặc dù các nhà chức trách đã đạt được thỏa thuận với IMF về một chương trình giúp ổn định nền kinh tế.
Tại Bangladesh, cuộc chiến ở Ukraine và giá cả hàng hóa tăng cao đã cản trở sự phục hồi mạnh mẽ từ đại dịch. Các nhà chức trách đã yêu cầu IMF hỗ trợ củng cố vị thế bên ngoài và tiếp cận với Quỹ khả năng phục hồi và bền vững mới của IMF để đáp ứng nhu cầu tài trợ trong các chương trình về biến đổi khí hậu. Cả Bangladesh và IMF đều sẽ tăng cường khả năng đối phó với các cú sốc trong tương lai.
Các nền kinh tế đang bị nợ như Maldives, CHDCND Lào, Papua New Guinea và những nền kinh tế đang đối mặt với rủi ro tái cấp vốn, như Mông Cổ, cũng đang đối mặt với những thách thức khi xu hướng thế giới thay đổi.
Tăng trưởng kinh tế tại các Quốc đảo Thái Bình Dương kỳ vọng phục hồi mạnh mẽ trong năm tới lên 4,2% từ 0,8% trong năm nay, vì các nền kinh tế này phụ thuộc vào phát triển du lịch và sẽ được hưởng lợi từ việc nới lỏng các hạn chế đi lại.
Lạm phát vẫn tăng
Ở hầu hết các nền kinh tế châu Á, lạm phát hiện vượt quá hạn mức của ngân hàng trung ương. Điều này là do ảnh hưởng cùng lúc của việc biến động giá lương thực và năng lượng cùng với việc rớt giá tiền tệ so với đồng đô la Mỹ và khoảng trống đầu ra bị giảm (tỷ lệ GDP thực tế bị giảm so với GDP tiềm năng tối đa).
Lạm phát cơ bản, không bao gồm những biến động về giá thực phẩm và năng lượng cũng đã tăng và kéo dài – bởi dự đoán về lạm phát và tiền lương - phải được theo dõi chặt chẽ. Trong khi đó, đồng đô la Mỹ đã tăng cao hơn so với hầu hết các loại tiền tệ chính khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất và báo hiệu sẽ có các đợt tăng tiếp theo. Hầu hết các đồng tiền của thị trường mới nổi ở châu Á đã mất từ 5% đến 10% giá trị so với đồng đô la Mỹ trong năm nay; cụ thể như đồng yên mất giá hơn 20%. Những đợt giảm giá gần đây đã bắt đầu chuyển sang lạm phát cơ bản trong toàn khu vực và điều này có thể khiến lạm phát ở mức cao lâu hơn dự kiến trước đây.
Giá thực phẩm và năng lượng toàn cầu tăng vọt vào đầu năm nay đe dọa làm tăng đột ngột chi phí sinh hoạt trong toàn khu vực, đặc biệt có tác động mạnh đến thu nhập thực tế của các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn chi tiêu nhiều hơn thu nhập khả dụng đối với những mặt hàng này.
Chính sách trong giai đoạn khó khăn
Trong bối cảnh tăng trưởng trì trệ, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với những thách thức phức tạp đòi hỏi những quyết định cứng rắn.
Các ngân hàng trung ương cần kiên trì với việc thắt chặt chính sách cho đến khi lạm phát giảm trở lại mức mục tiêu một cách đáng kể.
Tỷ giá hối đoái nên được phép điều chỉnh để phản ánh các nguyên tắc cơ bản, bao gồm các điều khoản thương mại — một thước đo giá cả đối với hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia so với hàng hóa nhập khẩu của quốc gia—và các quyết định chính sách tiền tệ đối ngoại.
Nhưng nếu các cú sốc toàn cầu dẫn đến tỷ lệ đi vay tăng đột biến mà không liên quan đến các thay đổi chính sách trong nước hoặc đe dọa sự ổn định tài chính hoặc làm suy yếu khả năng của ngân hàng trung ương trong việc ổn định kỳ vọng lạm phát, thì các biện pháp can thiệp ngoại hối góp phần hiệu quả trong các chính sách kết hợp của các quốc gia vốn có đủ dự trữ, cùng với các chính sách an toàn vĩ mô.
Các quốc gia cần khẩn trương xem xét việc cải thiện vùng đệm thanh khoản, bao gồm cả việc yêu cầu tiếp cận các công cụ phòng ngừa từ Quỹ cho những quốc gia đủ điều kiện.
Nợ công đã tăng đáng kể ở châu Á trong 15 năm qua - đặc biệt là ở các nền kinh tế tiên tiến và Trung Quốc, tình trạng này sẽ còn tăng thêm trong thời kỳ đại dịch.
Chính sách tài khóa cần tiếp tục củng cố dần dần cùng với việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, tập trung vào mục tiêu trung hạn là ổn định nợ công.
Do đó, các biện pháp để bảo vệ các nhóm người yếu thế khi chi phí sinh hoạt tăng cao sẽ cần hướng đến mục tiêu hợp lý và mang tính tạm thời. Ở các quốc gia có mức nợ cao, hỗ trợ sẽ cần phải trung lập về ngân sách để duy trì lộ trình củng cố tài khóa. Các khuôn khổ tài khóa trung hạn đáng tin cậy vẫn là một điều bắt buộc.
Ngoài ngắn hạn, các chính sách phải tập trung vào việc củng cố những thiệt hại do đại dịch và chiến tranh gây ra. Tổn thất do đại dịch và những khủng hoảng ngược như hiện nay có tác động rất lớn ở châu Á.
Thúc đẩy hội nhập quốc tế là rất cần thiết để ngăn chặn “sự phân mảnh về kinh tế địa lý” ngày càng cao và đảm bảo rằng hỗ trợ thương mại tăng trưởng; đáp ứng những nhu cầu cấp thiết về những thay đổi cơ cấu đầy tham vọng để thúc đẩy tiềm năng sản xuất của khu vực và giải quyết cuộc khủng hoảng về biến đổi khí hậu.
Nguồn: IMF blog
Từ khóa: Kinh tế châu Á, tăng lãi suất, chiến tranh, suy thoái của Trung Quốc






















