JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếLiệu Việt Nam có vượt qua sự cạnh tranh của các cường quốc trong kỷ nguyên tới?

Liệu Việt Nam có vượt qua sự cạnh tranh của các cường quốc trong kỷ nguyên tới?

vn

Viêt Nam đã thực hiện chiến lược phòng bị nước đôi khá thành công trong những thập kỷ gần đây, tuy nhiên quốc gia này đang chịu áp lực từ những chiến lược cạnh tranh căng thẳng ngày càng gia tăng trong khu vực.

Một buổi chiều chủ nhật nóng nực của tháng 5 năm 2014, tôi đang làm việc bên ngoài đại sứ quán Đan Mạch ở Hà Nội, ngay gần đại sứ quán Trung Quốc. Hai đại sứ quán được ngăn cách bởi Công viên Lenin- được trang hoàng bởi bức tượng của người sáng lập Liên bang Xô Viết. Trong suốt buổi chiều, hàng nghìn người dân Hà Nội đã tập trung tại và xung quanh công viên, một điều hiếm thấy ở một đất nước rất ít khi xảy ra các cuộc biểu tình.

Lý do cuả cuộc biểu tình, Trung Quốc đã di chuyển một giàn khoan dầu khổng lồ vào Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam, ít nhiều đã gây ra căng thẳng nghiêm trọng trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trong nhiều thập kỷ.

Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ nước láng giềng lớn ở phía Bắc trong nhiều thập kỷ qua. Một mặt, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và có quan hệ chặt chẽ giữa các đảng cộng sản cầm quyền của các nước. Mặt khác, giới lãnh đạo của đảng, cũng như người dân, có tinh thần dân tộc và quan ngại sâu sắc về sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Do đó, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam biết rằng không nên nhượng bộ quá nhiều trước sức ép của Trung Quốc.

Từ ý thức hệ cho đến chủ nghĩa hiện thực trong chính sách đối ngoại của Việt Nam

Kể từ khi thống nhất vào năm 1975, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã phát triển linh hoạt qua các giai đoạn khác nhau phù hợp với lợi ích mà nhà nước Việt Nam đề ra.

Sự thay đổi đáng kể nhất là sự ra đời của chính sách Đổi mới - một chính sách cải cách kinh tế, vào năm 1986. Cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội dẫn đến công cuộc Đổi mới; cuộc cải cách kinh tế bắt đầu để đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.

Với Đổi mới, Việt Nam dần mở cửa nền kinh tế với thế giới và hội nhập quốc tế và hướng đến những bước đầu tiên từ chính sách đối ngoại dựa trên ý thức hệ - nghĩa là từ nhấn mạnh chủ nghĩa xã hội và quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa sang chính sách tập trung vào tăng cường phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và lợi ích quốc gia.

Tuy nhiên, đây không bao giờ là một quá trình tuyến tính, và các cuộc thảo luận gay go và kéo dài đã diễn ra giữa những người theo chủ nghĩa cải cách và những người bảo thủ, đặc biệt là vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990.

Những người theo chủ nghĩa cải cách ủng hộ tự do hóa kinh tế và quan hệ chặt chẽ hơn với phương Tây. Ngược lại, những người bảo thủ lại hoài nghi về hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là phát triển quan hệ với Mỹ.

Khi quá trình sụp đổ của Liên Xô diễn ra, đã dần thúc đẩy quá trình Việt Nam mở cửa với phương Tây. Vào thời điểm đó, các nước xã hội chủ nghĩa khác lần lượt chiếm 80% và 65% xuất nhập khẩu của cả nước. Đơn giản là Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đa dạng hóa thương mại và tiếp tục bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991 và Mỹ vào năm 1995. Cuối năm đó Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và cuối cùng đã vươn lên khỏi sự cô lập của quốc tế.

Quan hệ đối tác, Thỏa thuận thương mại và Chủ nghĩa đa phương

Chính sách đối ngoại của Việt Nam ngày nay dựa trên các nguyên tắc độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Và kể từ khi giành được độc lập, Việt Nam kiên định chính sách quốc phòng “bốn không” trong quan hệ quốc tế: không có căn cứ quân sự nước ngoài trên đất Việt Nam, không liên minh quân sự với các nước khác, không hợp tác với các nước khác để chống lại nước thứ ba, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các mối quan hệ quốc tế.

Để thực hiện các chính sách này, Việt Nam đã chủ động mở rộng phạm vi quan hệ đối ngoại bằng cách thiết lập quan hệ đối tác, tham gia các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, xây dựng chủ nghĩa đa phương tích cực hơn.

Việt Nam đã xây dựng liên kết bao gồm 17 quan hệ đối tác chiến lược và 13 quan hệ đối tác toàn diện, cũng như làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với nhiều quốc gia khác. Việt Nam cũng đã ký kết 18 hiệp định thương mại tự do, bao gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu-Việt Nam (EVFTA). Vào tháng 5 năm nay, Việt Nam cũng tham gia Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ - Thái Bình Dương (IPEF).

Các quan hệ đối tác và hiệp định thương mại tự do đã mang lại cơ hội tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khổng lồ và các hiệp định ưu đãi, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hơn ba thập kỷ. Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế cởi mở nhất ở châu Á, với thương mại hiện tăng gấp đôi GDP tính theo giá trị.

Đối với các cam kết đa phương, Việt Nam đã trở thành quốc gia tích cực hơn và rõ ràng hơn, đặc biệt là trong thập kỷ qua. Việt Nam tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc năm 2014 và được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Điều này cũng đóng vai trò ngày càng tích cực trong ASEAN: Việt Nam đã khẳng định được vi thế trong việc củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc ngoại giao khu vực và quản lý khá thành công về việc chủ trì khối trong đỉnh điểm của đại dịch COVID-19 vào năm 2020.

Do kết quả của những phát triển kinh tế tích cực và sự công nhận ngày càng tăng của quốc tế, cho thấy ngoại giao là công cụ chủ chốt để đảm bảo lợi ích an ninh và phát triển kinh tế xã hội. Trong thập kỷ qua, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã được cải cạc theo hướng hiện đại hóa đáng kể. Các công chức không ngừng được đào tạo, nâng cao năng lực và hiểu biết hơn về các vấn đề toàn cầu và nâng cao năng lực về ngôn ngữ. Theo đó, họ cảm thấy tự tin hơn khi hoạt động trên đấu trường quốc tế. Song song đó, năng lực phân tích của Viện đào tạo và tư vấn nội bộ của Bộ Ngoại giao, Học viện Ngoại giao Việt Nam, đã được cải thiện đáng kể cả về chất lượng và phạm vi, cung cấp các phân tích hiệu quả giúp lãnh đạo Việt Nam đưa ra các quyết định sáng suốt hơn.

'Nạn nhân của địa lý' và sự phức tạp của các mối quan hệ quyền lực lớn

Lịch sử của Việt Nam về chiến tranh cũng như gánh nặng của sự gần gũi với Trung Quốc, vốn được mô tả là "nạn nhân về địa lý", là yếu tố then chốt đối với quan điểm, suy nghĩ và hành động của ĐCSVN. Tầm quan trọng về vị trí địa chính trị của Việt Nam, có biên giới trên bộ với Trung Quốc và đường bờ biển dài hơn 3.200 km, chủ yếu trên Biển Đông và điều kiện cả chính sách đối nội và đối ngoại không được đánh giá cao.

Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam vẫn đang là hình bóng của người láng giềng phương Bắc, mặc dù quan hệ giữa hai đảng cộng sản khá tốt và Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, về cơ bản quan hệ với Trung Quốc có sự hạn chế do bởi sự không tin tưởng lẫn nhau về Biển Đông, nơi xảy ra các cuộc cạnh tranh về các tuyên bố chủ quyền và các cuộc đụng độ tái diễn hiện là mối quan tâm an ninh chính của Việt Nam.

Để chống lại sự quyết đoán của Trung Quốc, Việt Nam đã tăng cường năng lực quân sự và tích cực xây dựng quan hệ chiến lược với Mỹ, Nhật Bản, EU, Ấn Độ và Hàn Quốc, trong khi vẫn giữ Nga là nhà cung cấp vũ khí chính của mình. Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Trung Quốc trong khi chống lại những thách thức của Trung Quốc đối với chủ quyền của mình. Chính sách “cam kết và đấu tranh” sẽ được duy trì.

Mặt khác, hoạt động thương mại và đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất trong số 10 đối tác thương mại hàng đầu của Mỹ, trong khi Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ hai và thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam.

Nhưng mối quan tâm chung về sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực là nhân tố trọng tâm chính của sự hợp tác giữa Việt Nam-Mỹ. Mỹ hiểu rằng Việt Nam sẽ không trở thành một đồng minh quốc phòng mới, nhưng nước này có tầm quan trọng chiến lược như một đối tác có thể chống lại Trung Quốc.

Đối với Việt Nam, mối quan hệ tốt đẹp với Mỹ sẽ cung cấp hỗ trợ về an ninh và ngoại giao, đồng thời với nước này là đòn bẩy để tăng cường khả năng răn đe chống lại Trung Quốc ở Biển Đông.

Mặc dù, Việt Nam và Mỹ có cùng quan điểm với nhau trong hầu hết các vấn đề chiến lược, sự khác biệt về chính trị và ý thức hệ vẫn còn. Tuy nhiên, tầm quan trọng địa chính trị của Việt Nam và các lợi ích an ninh của Việt Nam dường như vượt trội hơn sự quan ngại của Mỹ về dân chủ và nhân quyền. Viễn cảnh về sự cạnh tranh quyền lực lớn như một cuộc đụng độ giữa các chế độ chuyên quyền và dân chủ khả năng không diễn ra thành công ở Việt Nam, cũng như ở hầu hết các quốc gia còn lại của Đông Nam Á.

Hon nữa, Việt Nam là người bạn quan trọng nhất của Nga ở Đông Nam Á. Kể từ khi độc lập, Nga cũng là đối tác kiên định của Việt Nam trong ba cường quốc. Cho đến nay, Nga là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho Việt Nam. Trong hai thập kỷ đã cung cấp hơn 80% lượng vũ khí nhập khẩu của Việt Nam, mặc dù quan hệ kinh tế giữa hai nước còn khá khiêm tốn. Việc Nga xâm lược Ukraine đã thách thức chính sách ngoại giao ‘bốn không” quan trọng của Việt Nam.

Có khả năng là cuộc xâm lược Ukraine sẽ dẫn đến việc thúc đẩy xu hướng đa dạng hóa trong hoạt động mua vũ khí của Việt Nam và giảm sự phụ thuộc của nước này vào Nga.

Minh chứng là, sự cố giàn khoan dầu năm 2014 đã thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam với Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước châu Âu trong việc hiện đại hóa năng lực hải quân và hàng hải của Việt Nam.

Các mối quan hệ với Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga đã ảnh hưởng đến các chính sách đối ngoại của Việt Nam trong hơn bốn thập kỷ. Các nước này sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ chốt trong tương lai, nhưng các nước mới đang trở thành đối tác quan trọng, và quan hệ giữa ba nước lớn sẽ có xu hướng thay đổi. Tầm quan trọng của Nga có thể sẽ giảm đi phần nào theo thời gian, trong khi các nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và EU ngày càng trở nên phù hợp. NHưng thực sự cả Moscow và Washington đều quan trọng đối với quốc phòng và an ninh của Việt Nam khi muốn ngăn chặn Bắc Kinh ở Biển Đông.

Việt Nam hiện đang được nhiều nước quan tâm, đất nước này đã trở thành đối tượng được quan tâm mạnh mẽ do vị trí địa chính trị và nền kinh tế phát triển vượt bậc. Việt Nam là một cường quốc tầm trung mới nổi và có chung mối quan tâm của phương Tây trong một số lĩnh vực hợp tác tiềm năng trọng yếu, như tôn trọng luật pháp quốc tế, trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, tự do hàng hải ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, tăng cường thực thi hàng hải, biến đổi khí hậu, và kết nối.

Chiến lược phòng bị nước đôi dưới áp lực cạnh tranh trong khu vực

Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam đã thực thi linh hoạt các chính sách đối ngoại và bảo tồn chủ quyền của mình thông qua chiến lược phòng bị nước đối. Về cơ bản, chiến lược này tập trung vào việc tránh đứng về bên nào, đồng thời áp dụng các chiến lược khác nhau trong quan hệ với các cường quốc và xây dựng quan hệ đối tác kinh tế và chính trị sâu rộng với các bên thứ ba, đặc biệt là các cường quốc trung gian, như một vị trí dự phòng.

Chiến lược này sẽ chịu nhiều áp lực do hai thách thức chính: sự cạnh tranh gia tăng giữa Trung Quốc và Mỹ, vốn sẽ là động lực chính dẫn đến sự thay đổi ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương; và Trung Quốc tiếp tục quấy rối và quyết đoán hơn ở Biển Đông.

Điều hành quốc gia dưới sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ là một thách thức quan trọng đối với Việt Nam. Hà Nội có sự dè dặt về sự cạnh tranh chiến lược của Washington và Bắc Kinh và sẽ thận trọng để không bị mắc kẹt giữa hai nước, trong khi áp lực sẽ ngày càng gia tăng. Không thể xảy ra việc Việt Nam sẽ thúc đẩy mối quan hệ với một cường quốc này mà gây bất lợi cho một cường quốc khác. Hơn nữa, do lịch sử và sự gần gũi với Trung Quốc, nên không có khả năng Việt Nam sẽ tham gia vào bất kỳ liên minh chính thức nào nhằm chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Quản lý xung đột ở Biển Đông cũng sẽ vẫn là một thách thức quan trọng đối với Hà Nội trong tương lai gần, vì không có giải pháp lâu dài cho phía trước. Do sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực, Việt Nam sẽ áp dụng lập trường cứng rắn trong mối quan hệ với Trung Quốc, vì họ biết rằng cúi đầu trước Trung Quốc có thể làm tổn hại tính chính đáng của Việt Nam, đồng thời Việt Nam sẽ tích cực duy trì các kênh ngoại giao và mở rộng các cam kết về kinh tế.

Cho đến nay, chiến lược phòng bị nước đôi của Việt Nam đã cố gắng giữ các mối quan hệ trung lập, không quá gần cũng không quá giữ khoảng cách với các cường quốc mà vẫn tạo cho Việt Nam khả năng cơ động và đóng vai trò then chốt trong việc xác định con đường phát triển của mình.

Nguồn: The Diplomat

Từ khóa: Việt Nam, chính sách đối ngoại, cạnh tranh quyền lực

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789639
Go to top