JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnAi đã chiến thắng trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung?

Ai đã chiến thắng trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung?

trade war

Cuộc chiến thương mại không hồi kết, chủ nghĩa dân tộc đang lấn át tuy duy về kinh tế khi suy thoái kinh tế toàn cầu bùng phát.

Tổng thống Mỹ- Joe Biden những chính sách thành công được ghi nhận trong vài tháng qua. Nhờ vào các sáng kiến quân sự và ngoại giao của Ukraine, Ukraine dường như phá vỡ kế hoạch cảu Nga, đồng thời khối NTO được củng cố và đoàn kết hơn. Thủ lĩnh của Al Qaeda, Ayman Zawahiri, cuối cùng đã bị loại.

Sau một năm Biden ký ban hành các đạo luật trong nước, Đạo luật Xây dựng lại Tốt hơn (the Build Back Better Act), có vẻ như hoàn toàn không thành công như mong đợi. Tổng thống đã phải điều chỉnh, một phần đáng kể của đạo luật được cấu hình lại thành Đạo luật Giảm lạm phát với trị giá 737 tỷ đô la. Và lạm phát - có lẽ là mối đe dọa lớn nhất đối với đảng Dân chủ trước cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới - đang bắt đầu giảm, trong khi đảng Cộng hòa dường như dễ bị công kích hơn trong các cuộc thăm dò. Vì vậy Biden rất hào hứng, ông tuyên bố rằng đại dịch coronavirus đã sớm “kết thúc”.

Nhưng trong chương trình nghị sự của Biden, vấn đề thúc đẩy thương mại toàn cầu không được đề cập và mọi thứ hầu như chưa triển khai. Đây là điều đáng lo ngại, bởi vì nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu có thể xảy ra.

Rất ít người nắm quyền trong chính phủ Mỹ - hoặc các nền kinh tế hàng đầu khác - tập trung vào việc phát triển nền kinh tế thế giới. Ngược lại, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc đã xác định một cuộc chiến thương mại lâu dài không có hồi kết và điều này chắc chắn sẽ làm tổn thất nền kinh tế toàn cầu.

Công bằng mà nói, gần hai năm sau Biden lên nắm chính quyền, Mỹ đang ở trong một kỷ nguyên mới mà kinh tế không còn là vấn đề quan trọng nữa. Thay vào đó, các cuộc tập hợp dân túy kêu gào về chủ nghĩa kỹ trị - dân tộc thống trị tối cao. Mỹ và các nền kinh tế lớn khác đang ở chế độ phòng thủ, sẵn sàng gia tăng hàng rào thương mại và thuế quan nếu cần thiết.

Sự thay đổi thế hệ này là “chiến lược đuôi dài về cú sốc thương mại Trung Quốc”. Trong những thập kỷ gần đây, hiện tượng các nhà sản xuất Mỹ chuyển sang các quốc gia có nguồn lao động giá rẻ, đặc biệt là ở thị trường mới nổi Trung Quốc.

Ở Washington, sự am hiểu về nền kinh tế truyền thống đối với lợi ích tăng trưởng của thị trường tự do đã bị loại khỏi cuộc thảo luận. Tất cả mọi người, dường như, đã trở thành nhà chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc.

Trong gần một năm, chính quyền Biden đã rà soát hàng trăm loại thuế quan, hay các loại thuế đánh vào thương mại, được áp đặt bởi người tiền nhiệm Donald Trump, người đã quyết định rút khỏi hiệp định thương mại tự do lớn cuối cùng của Washington, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).  Và Tổng thống sẽ tiếp tục trì hoãn việc tái gia nhập, rõ ràng là ông ta lo sợ về hậu quả chính trị khi mềm mỏng với Trung Quốc. Dù quan chức chính quyền cấp cao thừa nhận rằng “không có chiến lược” nào đối với nhiều loại thuế quan này và điều này “chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực người tiêu dùng và nhà sản xuất Mỹ”.

Trong một cuộc phỏng vấn hôm thứ Hai, Phó Đại diện Thương mại Sarah Bianchi cho biết sẽ hết đến năm sau để hoàn thành việc rà soát dự kiến ​​kéo dài 4 năm đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974.

Điều này cho phép Washington trừng phạt quốc gia bị coi là vi phạm các quy tắc thương mại, như Trung Quốc bị cáo buộc đã đánh cắp tài sản trí tuệ, ép buộc chuyển giao công nghệ từ các công ty nước ngoài và trợ cấp mạnh mẽ cho xuất khẩu để thống trị các lĩnh vực công nghiệp chủ chốt.

Vào tháng 10 năm 2021, chính quyền cho biết họ sẽ xem xét lại thuế quan như một phần của kế hoạch mở lại các cuộc đàm phán với Trung Quốc, và các khuyến nghị về việc loại bỏ một số thuế quan hiện đã được trình lên Biden. Nhưng “chúng tôi đang chờ nghe ý kiến ​​từ tổng thống về một số vấn đề,” theo một quan chức chính quyền cấp cao giấu tên cho biết.

Tiến trình diễn ra chậm có thể là một chiến lược. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Đại diện Thương mại Mỹ - Katherine Tai đã bảo vệ quan điểm thuế quan của Trump như "phản ứng đối với mối quan tâm chính đáng về mặt kinh tế và cạnh tranh" sau hai thập kỷ bất thành với Bắc Kinh.

Những gì có thể xảy ra, trong một kỷ nguyên trước đây. Một cuộc tranh luận kinh tế gay gắt về thuế quan đã được thúc đẩy bởi sự căng thẳng về mặt chính trị ở Washington khi Biden tìm cách duy trì đa số phiếu tại Hạ viện và Thượng viện trước cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11.

Wendy Cutler, một nhà đàm phán thương mại chuyên nghiệp của Mỹ hiện thuộc Hiệp hội Châu Á cho biết: “Áp đặt thuế quan luôn dễ dàng hơn là xóa bỏ". Các lập luận để xóa bỏ ít nhất một số thuế quan đang được yêu cầu, đặc biệt là vào thời điểm lạm phát gia tăng, mất an ninh lương thực và biến đổi khí hậu." Tuy nhiên, Wendy Cutler nói, “cuộc tranh luận về thuế quan ít hơn về giá trị và  nhiều hơn về chính trị, cho thấy rằng thuế quan sẽ vẫn duy trì trong tương lai gần.”

Trong khi đó, chính quyền đang đặt niềm tin vào cách tiếp cận thương mại. Các vấn đề về quyền của người lao động, các sáng kiến ​​chống tham nhũng, giảm bất bình đẳng thu nhập thông qua các thay đổi được đề xuất trong luật thuế và các quy tắc thương mại mới cho công nghệ năng lượng sạch và kỹ thuật số.

Một số vấn đề này được ưu tiên đưa vào sáng kiến ​​thương mại đa phương duy nhất của chính quyền Biden, Diễn đàn Kinh tế Ấn Độ Dương (IPEF). Cuộc họp đầu tiên của các bộ trưởng IPEF đã được tổ chức vào tháng 9 tại Los Angeles và nhóm Biden đã thu hút được tất cả 14 thành viên, trừ Ấn Độ (các nước khác bao gồm Nhật Bản, Úc, Singapore, Việt Nam và Hàn Quốc) tham gia.

Bianchi nói: “Chúng tôi cảm thấy như ở Los Angeles, chúng tôi đã có sự đoàn kết, nhiệt tình và cam kết thực hiện một chương trình nghị sự đầy tham vọng, và trong số các bộ trưởng tham gia có rất nhiều “sự biết ơn” rằng Mỹ đã thúc đẩy sáng kiến ​​IPEF. Các quốc gia này cảm thấy nhẹ nhõm khi có Mỹ trong bàn đàm phán. Cho dù trong lĩnh vực nông nghiệp hay thương mại kỹ thuật số”.

Biden đã đưa ra một số loại trừ thuế quan đối với Trung Quốc, chẳng hạn bằng cách tạm thời cho phép nhập khẩu các tấm pin mặt trời do Trung Quốc sản xuất từ ​​các quốc gia Đông Nam Á. (Bắc Kinh đã chuyển một số cơ sở sản xuất của mình sang khu vực đó để trốn thuế). Và một năm trước, chính quyền đã thỏa thuận hạn chế để dỡ bỏ các rào cản đối với thương mại thép và nhôm với Liên minh châu Âu. Bianchi nói: “Tôi cảm thấy chúng ta đang thay đổi với tốc độ nhanh”

Nhưng nhiều chuyên gia cho rằng điều này vẫn chưa đủ. Chương trình nghị sự của IPEF không bao gồm những điều mà các quốc gia kỳ vọng như: mở cửa thị trường mới của Mỹ.

Một số nhà kinh tế và chuyên gia tin rằng IPEF được thiết lập nhưng không thực sự vững chắc theo lời của Mary Lovely, một thành viên cấp cao tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson ở Washington. “Rủi ro ở đây là IPEF không có cơ chế thực thi, chẳng hạn như dựa vào WTO và Mỹ có thể đánh thuế đối với các quốc gia khác nếu họ không nâng cao tiêu chuẩn người lao động. Và điều này khó có thể hoàn thành vào thời điểm diễn ra cuộc bầu cử tiếp theo vào năm 2024 ”. Thêm vào đó, Lovely nói, “điều này có thể dễ dàng không thực hiện bởi chính quyền tiếp theo nếu đó không phải là Biden.”

Các quan chức chính quyền Biden phản đối rằng các hiệp định thương mại lớn luôn mất nhiều năm để hoàn thành, và yêu cầu sự hỗ trợ của Mỹ.

“Bất cứ khi nào các quốc gia tham gia vào một chương trình nghị sự tích cực nhằm tăng cường quan hệ đầu tư và thương mại, bản thân quá trình này sẽ giúp giảm thiểu áp lực đối với chủ nghĩa dân tộc và sự cô lập về kinh tế,” cựu quan chức Biden David Marchick, hiệu trưởng Trường Kinh doanh Kogod thuộc Đại học Mỹ, cho biết.

Nhưng chương trình nghị sự thương mại mới khác mà chính quyền muốn giới thiệu - các cuộc đàm phán riêng biệt để mở rộng thương mại với Đài Loan (đã bị loại khỏi IPEF) - đang tạo ra những lo lắng mới. Thỏa thuận với Đài Loan sẽ gây căng thẳng quan hệ Mỹ-Trung hơn nữa vì Bắc Kinh sẻ cảm thấy bị xúc phạm khi những nỗ lực mới của Mỹ nhằm xích lại gần Đài Bắc.

Đồng thời, dữ liệu kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Hôm thứ Tư, Cục Dự trữ Liên bang đã tuyên bố tăng lãi suất quỹ liên bang thêm 3/4 điểm, và cho biết sẽ có nhiều đợt tăng nữa. Rõ ràng là Chủ tịch Fed Jerome Powell, người bị chỉ trích vì quá chậm trong việc hạn chế giá tăng, đã cam kết khắc phục sai lầm của suy thoái khi nói đến việc kiềm chế lạm phát.

Một báo cáo mới của Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng lãi suất tăng và suy thoái toàn cầu có thể "kích hoạt một cuộc suy thoái toàn cầu vào năm 2023" cũng như viễn cảnh lạm phát đình trệ hơn kéo dài từ những năm 1970.

Chủ tịch Nhóm Ngân hàng Thế giới David Malpass cho biết: “Tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại mạnh mẽ, có khả năng chậm hơn nữa khi nhiều quốc gia rơi vào suy thoái”. Báo cáo trích dẫn hạn chế thương mại là một yếu tố chính, các nhà hoạch định chính sách “cần đưa ra các biện pháp để giảm bớt những ràng buộc đối đầu với thị trường lao động, thị trường năng lượng và mạng lưới thương mại”.

Cựu Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Larry Summers - người có những cảnh báo trước về xu hướng lạm phát nguy hiểm - cũng tin rằng suy thoái đang đến với cả Mỹ và châu Âu, điều này có thể thậm chí còn tồi tệ hơn.

Điều này một phần là do “lỗ hổng đáng kinh ngạc” mà người châu Âu đã tạo ra cho chính họ khi quá phụ thuộc vào năng lượng của Nga. Hôm thứ Tư, các nhà kinh tế của Deutsche Bank đã nâng cao dự đoán về một cuộc suy thoái nghiêm trọng đối với khu vực đồng euro, cho biết họ dự kiến ​​sản lượng sẽ giảm 2,2% trong năm tới, so với dự đoán trước đó là suy thoái 0,3%.

Tuy nhiên, xu hướng sâu xa đáng lo ngại là yếu tố về kinh tế đang bị gạt sang một bên. Các nhà kinh tế nổi tiếng như Janet Yellen, người kế nhiệm Summers làm Bộ trưởng Tài chính và cũng là người đã cảnh báo về sự nguy hiểm của thuế quan, đang quay lưng lại với phe diều hâu của Trung Quốc trong chính quyền.

Chủ nghĩa dân tộc mới đã ăn sâu vào trong cả hai đảng phái chính trị. Những người theo chủ nghĩa hạn chế thương mại đang cai trị ở Washington, và gần như không thể tìm thấy một người theo chủ nghĩa bành trướng nào có tiếng nói, ngay cả trong cộng đồng doanh nghiệp.

Chỉ cần nhìn vào những gì đã xảy ra khi giám đốc điều hành Chubb Evan Greenberg, cựu chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung Quốc, cho rằng ý tưởng “tách rời” giữa Mỹ và Trung Quốc là một “sự bất khả thi về kinh tế". Greenberg thấy hoàn toàn đơn độc, vì rất ít nhà lãnh đạo doanh nghiệp tán thành quan điểm của ông.

Tại Washington, hiện đang có sự đồng thuận rộng rãi rằng các doanh nghiệp Mỹ nên rút khỏi Trung Quốc, rút ​​khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu hóa và xây dựng lại ngành công nghiệp quan trọng trong nước, thậm chí đến mức sàng lọc các khoản đầu tư từ nước ngoài.

Kết quả là các chính sách công việc vốn được xem là sự lãng phí trong quá khứ được áp dụng trở lại, nhưng nhiều người Mỹ cho rằng nó là cần thiết hiện nay.

Vào cuối tháng 7, một dự luật khổng lồ trị giá 280 tỷ đô la để đâu tư vào các công ty công nghệ cao của Mỹ đã thông qua Thượng viện Mỹ, thường bị phân chia bởi cuộc bỏ phiếu giảm từ 64 phiếu đến 33 phiếu, với 17 đảng viên Cộng hòa bỏ phiếu ủng hộ.

Cả hai đảng chính trị đều ủng hộ kế hoạch của Biden dành hơn 50 tỷ USD xây dựng ngành công nghiệp bán dẫn nội địa của Mỹ. Hôm thứ Ba, chính quyền đã công bố một nhóm các nhà công nghệ lỗi lạc có kinh nghiệm được chính phủ hổ trợ kinh phí để điều hành các văn phòng CHIPS mới được thành lập tại Mỹ.

Trong bài phát biểu tại State of the Union năm 2022, tổng thống Biden đã tuyên bố rằng “thay vì dựa vào các chuỗi cung ứng nước ngoài, hãy đến với Mỹ. Các nhà kinh tế gọi đó là “tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế của Mỹ. Tôi gọi đó là xây dựng một nước Mỹ tốt đẹp hơn. Kế hoạch chống lạm phát của tôi sẽ làm giảm chi phí của bạn ”. Một năm trước đó, Biden nói, “Đơn giản là không có lý do gì mà các cánh quạt cho tuabin gió không thể được chế tạo ở Pittsburgh thay vì ở Bắc Kinh. Không có lý do. Không có."

Trên thực tế với hơn 200 năm tư duy kinh tế và ý tưởng về lợi thế so sánh đã minh chứng được điều này có thể diễn ra ở các quốc gia khác. Họ có thể xây dựng nhưng chính sách tương tự như vậy một cách hiệu quả hơn, thành thạo hơn và ít tốn chi phí hơn.  Cuối cùng chiến lược này sẽ giúp ích cho tất cả mọi người.

Và, trong mọi trường hợp, nếu lạm phát chỉ tăng, đúng như nền kinh tế học truyền thống có thể dự đoán. Theo Lovely của Viện Peterson cho rằng với cả hai đảng phái chính trị đều thiếu những chuyên gia kinh tế theo chủ trương ôn hòa và những người ủng hộ thương mại tự do, họ đang “áp dụng rất nhiều kiến ​​thức về thể chế”.

Trong một số trường hợp, không ai đáng bị quy trách nhiệm cho tình trạng hiện nay hơn các nhà kinh tế học - những người, nhiều năm qua, nhất là sau chiến tranh lạnh đã quảng bá quá mức cho thị trường tự do

Chủ nghĩa Pollyanna đó có thể đã giúp đưa Trump, một người theo chủ nghĩa dân túy theo chủ nghĩa bảo hộ với kiến ​​thức kinh tế ít ỏi , vào Nhà Trắng, hứa hẹn “khôi phục hoạt động sản xuất ở Mỹ”. “Cú sốc Trung Quốc” đã dẫn đến việc hàng triệu người Mỹ mất việc làm, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, và làm trỗi dậy chủ nghĩa dân túy chống Trung Quốc.

Mặc dù Biden đã từ chối nhiều chính sách theo chủ nghĩa biệt lập của Trump, trong chương trình nghị sự thương mại, Biden vẫn kế thừa một phần chính sách thương mại  bao gồm hầu hết các loại thuế quan.

Theo các quan chức chính quyền Mỹ, IPEF được thiết kế để đảm bảo rằng cánh cửa thương mại của Mỹ không mở rộng một lần nữa nếu không nhận đủ lợi ích.

 IPEF có quy định hợp lý của thị trường kỹ thuật số và nới lỏng các hạn chế về thuế.

Điều này cho thấy chủ nghĩa dân tộc mới không phải là xấu. Một số hoạt động sản xuất đang diễn ra. Theo một báo cáo mới từ Reshoring Initiative, một nhóm vận động hành lang, các công ty Mỹ có thể mang lại gần 350.000 việc làm trong năm nay, tăng từ 260.000 vào năm 2021 và là mức cao nhất trong lịch sử gần đây.

Nhưng thực tế là hầu hết các công ty đa quốc gia không mang về hầu hết các việc làm tại các nhà máy. Họ chỉ đơn giản là chuyển đến những quốc gia mới không phải là Trung Quốc. Và mặc dù Biden đã tìm cách đổ nhiều tiền hơn vào giáo dục, Mỹ đã không đào tạo được nguồn lực để quay trở lại lĩnh vực sản xuất công nghệ cao với số lượng lớn.

Lovely nói: “Ý tưởng rằng nếu Trung Quốc không mở cửa, chúng tôi sẽ vẫn làm cho tất cả những thứ này ở đây hoàn toàn thối nát”. “Các công ty đa quốc gia sẽ đơn giản là đi nơi khác ... Ai sẽ từ bỏ một công việc trong lĩnh vực dịch vụ để chuyển sang sản xuất?”

Các nhà kinh tế cho biết việc cố gắng khôi phục sản xuất nội địa đối với các sản phẩm từng sản phẩm ở nước ngoài một cách giả tạo chỉ làm tăng chi phí và sẽ chỉ mang lại lợi ích cho một số công ty công nghệ có vị trí tốt. Và một số chuyên gia cho rằng dường như Mỹ vẫn chưa có chiến lược tổng thể cho việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ.

Jon Bateman, thành viên cấp cao trong Chương trình ngoại giao quốc tế công nghệ và tại Carnegie Endowment for International Peace, cho biết: “Tôi nghĩ rằng vẫn chưa có chiến lược chặt chẽ nào”. Bateman và các chuyên gia khác cảnh báo, nếu bị cô lập quá nhiều khỏi thị trường quốc tế và chuỗi cung ứng, sẽ chỉ gây bất lợi cho các doanh nghiệp Mỹ, kể cả lĩnh vực trí tuệ nhân tạo cho đến nông nghiệp.

Một ví dụ điển hình cách đây hơn hai thập kỷ, khi cho rằng Bắc Kinh đánh cắp bí mặt vệ tinh, Quố hội đã đặt ra các giới hạn về xuất khẩu nghiêm ngặt đối với tất cả tất cả các hoạt động mua bán vệ tinh thương mại của Mỹ, thâm chí đối với các quốc gia thân thiện như Canada. Kết quả là thị phần của Mỹ trên thị trường toàn cầu đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, giảm từ 75% xuống còn 45%.

Mối đe dọa kinh tế đang trở nên trầm trọng hơn khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có những chính sách tương đồng với động thái chuyển đổi chương trình nghị sự dân tộc chủ nghĩa của Biden.

Nhờ những nỗ lực của chính ông Tập trong việc làm cho Trung Quốc tự chủ — và việc ông ta đóng cửa toàn bộ các thành phố bằng virus corona— nền kinh tế Trung Quốc đang chậm lại ở mức gần như chưa từng có, chỉ còn khoảng 3%, một điều từng không thể tưởng tượng được ở quốc gia có tốc độ phát triển cao. Tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên là 20%. Bong bóng thị trường nhà ở của Trung Quốc với những khoản nợ khổng lồ và tốc độ mở rộng quá nhanh, cũng có nguy cơ sụp đổ trong thời gian dài.

Vẫn còn những mối đe dọa về việc Trung Quốc, với tư cách là chủ nợ chính thức lớn nhất thế giới trong khuôn khổ Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI) trị giá gần 1 nghìn tỷ USD, sẽ xử lý cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu đang nổi lên như thế nào.

Sri Lanka bị phá sản là nạn nhân đầu tiên - và là chủ nợ lớn nhất chính là Trung Quốc. Do việc huy động quá mức tín dụng - các quốc gia ở Trung Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh cũng có thể phải đối mặt với các đợt ngân hàng bị phá sản.

Sau một thập kỷ cho vay cắt cổ, các con nợ của Bắc Kinh đang cố gắng trả nợ khi đối mặt với lạm phát, chi phí năng lượng cao và lãi suất cao hơn. Theo một nghiên cứu gần đây, kể từ khi đại dịch xảy ra, gần 60% các nước thu nhập thấp hiện đang lâm vào cảnh nợ nần do cho vay của Trung Quốc hoặc có rủi ro cao.

Điều đó không có nghĩa là thương mại toàn cầu đang chậm lại, hoặc thậm chí đang chững lại vào lúc này. Khối lượng thương mại hàng hóa thế giới đã phần nào chững lại, nhưng “thương mại vẫn được dự báo sẽ tăng trưởng nhanh hơn vào năm 2022 và 2023 so với thập kỷ trước, mặc dù dự báo sẽ suy giảm do chiến tranh ở Ukraine và tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại”, một thông tin mới trong báo cáo của Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York.

Điều thú vị là phần lớn sự tăng trưởng mới sẽ đến từ các quốc gia ở Đông Nam Á và Mỹ Latinh, những quốc gia đang tìm cách cắt giảm thỏa thuận với cả Trung Quốc và Mỹ.

William Reinsch, cựu Thứ trưởng Bộ Thương mại, cho biết: “Không có triển vọng thực sự về các cuộc đàm phán nghiêm túc giữa Mỹ và Trung Quốc,“ đấu trường cạnh tranh thực sự giữa Mỹ và Trung Quốc nằm ở thị trường thứ ba ”. “Trung Quốc sẽ không đối xử công bằng với các công ty nước ngoài ở Trung Quốc, và Mỹ có thể làm điều tương tự với Trung Quốc. Đó là vấn đề cạnh tranh với Trung Quốc ở phần còn lại của thế giới ”.

Bắc Kinh đang trả đũa chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ bằng các hiệp ước thương mại mà Trung Quốc tham gia ở châu Á, và theo một báo cáo gần đây của Reuters, thương mại khu vực Mỹ Latinh ngoài Mexico, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ. Tăng trưởng ở ba nền kinh tế lớn trên thế giới – Mỹ, Liên minh Châu Âu và Trung Quốc - đang tăng cao, và khi thương mại giữa các nền kinh tế này chậm lại, nguy cơ suy thoái nghiêm trọng ngày càng gia tăng.

Nguồn: FP

Từ khóa: chiến tranh thương mại, Mỹ - Trung

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789419
Go to top