Theo Peter Drucker: “100 tập đoàn lớn nhất nắm giữ 25% tài sản sản xuất trên toàn thế giới, có khả năng kiểm soát 75% thương mại quốc tế và 98% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các tập đoàn đa quốc gia này sẽ đưa ra những quyết định kinh tế dựa vào tác động tích cực về chính trị, người ra quyết định và các chính quyền của quốc gia”.
Thế kỷ 21 đã diễn ra các vấn đề kinh tế, xã hội phức tạp và xung đột; những đổi mới đột phá; tiến bộ công nghệ; dư chấn đại dịch COVID-19; xung đột khu vực và căng thẳng chính trị.
Những yếu tố này dẫn đến quan điểm cũ bị thay thế, công việc truyền thống ít hơn; tỷ lệ thất nghiệp cao ở các nền kinh tế đang phát triển; sự thay đổi mô hình làm việc như việc áp dụng ngày càng nhiều các mô hình làm việc từ xa; giảm giá trị của các công việc bền vững trong các lĩnh vực công nghiệp; thêm vào đó là lạm phát toàn cầu sau COVID-19.
Với những vấn đề trên, bài viết xin làm rõ tầm quan trọng liên quan đến Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở Châu Phi cận Sahara và các thách thức phải đối mặt.
Hiểu theo một cách đơn giản, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Nhà đầu tư nước ngoài có thể là một tổ chức thuộc sở hữu tư nhân hoặc chính phủ.
Ví dụ: công ty thăm dò và sản xuất của Nigeria (NXX) có thể mua cổ phần kiểm soát thông qua hình thức đầu tư FDI theo chiều ngang trong công ty lọc hóa dầu tầm trung của Angola (AZZ) hoặc ngược lại.
Dòng vốn FDI điển hình bao gồm vốn do nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một công ty liên kết nước ngoài, hoặc vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ công ty liên kết nước ngoài. Dòng vốn FDI cũng giống như các dòng vốn khác theo quan điểm của nền kinh tế.
Các chỉ số về dòng vốn FDI thể hiện sự ghi nhận vốn theo giá trị ròng. Nghĩa là các khoản tín dụng trừ đi các khoản ghi nợ, do đó có thể tạo ra nguồn vốn FDI dương hoặc âm. Ủy ban Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) xác định nguồn vốn FDI là giá trị vốn và dự trữ thuộc về một doanh nghiệp mẹ không cư trú, cộng với khoản nợ ròng của các công ty liên kết nước ngoài đối với doanh nghiệp mẹ.
Mặc dù không có cơ sở lý luận thống nhất về FDI, do mục tiêu của các tổ chức doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc vào các ưu tiên chiến lược riêng của họ; tuy nhiên một số điểm chung có thể được thiết lập. Một trong số đó là sự bão hòa của thị trường làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trong phạm vi đầu tư của FDI.
Trong trường hợp đó, FDI có thể xem là một chiến lược thông minh để đầu tư và mua lại cổ phần đáng kể trong một pháp nhân nước ngoài để nâng cao khả năng thương mại và tăng lợi nhuận.
Một yếu tố khác có thể được xem xét là tạo sự thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ở quốc gia B trong khi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cư trú tại quốc gia A, và đảm bảo sự ổn định về mặt chính trị. Các tổ chức và các cá nhân có giá trị ròng cao thường sẽ đầu tư vốn và nguồn lực vào các khu vực có chính trị và chính sách ổn định.
Do đó, việc hoạch định chiến lược có tính khả thi hơn liên quan đến các chính sách tiền tệ và tài khóa, thị trường tự do, dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái.
Tuy nhiên, một trong những lý do quan trọng nhất là các nền kinh tế giàu hơn thay vì viện trợ thì nên đầu tư vào thương mại cho các nền kinh tế đang phát triển để tăng cường phát triển bền vững.
Mục tiêu của phát triển bền vững sẽ mang lại lợi ích cho các nền kinh tế phát triển và mới nổi, thể hiện qua các hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khỏe và chính trị xã hội hiệu quả và mạnh mẽ, nhưng cuối cùng tạo động lực chính cho sự chảy máu chất xám từ các nền kinh tế mới nổi sang các nền kinh tế phát triển. Cụ thể, Hiệp hội Y tế Nigeria (NMA) báo cáo rằng chỉ tính riêng trong năm 2016 và 2018, quốc gia này đã mất hơn 9.000 bác sĩ bởi vì họ đã chuyển sang Vương quốc Anh, Canada và Hoa Kỳ.
Liệu một lượng lớn bác sĩ như vậy hoặc nhiều hơn nữa có tiếp tục rời khỏi Nigeria nếu nước này có các hệ thống chăm sóc sức khỏe và kinh tế xã hội hiệu quả dưới sự quản lý phù hợp?
FDI có thể được thành lập theo nhiều cách, bao gồm việc nắm giữ cổ phần lớn thông qua mua lại, sáp nhập hoặc hợp tác liên doanh với một công ty nước ngoài, tạo ra một công ty con hoặc một công ty liên kết ở một khu vực tài phán nước ngoài.
Theo hướng dẫn, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khuyến nghị các chủ đầu tư FDI phải đóng góp tỷ vleej vốn tối thiểu là 10% để tham gia kiểm soát doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính sách thể hiện sự linh hoạt và thực tế khi công nhận những trường hợp quyền sở hữu không được xác định bằng tỷ lệ sở hữu 10% mà ở mức thấp hơn, và điều này lại giúp kiểm soát lợi ích vốn của chủ sở hữu.
Ở Nigeria, FDI bắt buộc phải viện dẫn các điều khoản và yêu cầu tuân thủ quy định trong Đạo Luật về các vấn đề liên minh và quan hệ đối tác (CAMA) 2020.
Mục 78 (1) trong đó nêu rõ: Bất kỳ doanh nghiệp nước ngoài nào trước hoặc sau khi Luật mới được ban hành được thành lập ngoài Nigeria, và có ý định tiến hành kinh doanh tại Nigeria sẽ cần tiến hành thủ tục để thành lập doanh nghiệp tại Nigeria. Cho đến khi quá trình thành lập doanh nghiệp hoàn tất, doanh nghiệp nước ngoài sẽ không được tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào hoặc thiết lập trụ sở cho việc kinh doanh tại Nigeria. Trụ sở được thuê hoặc xây dựng trong giai đoạn này chỉ nhằm mục đích cho việc giao thiệp thông thường
Xét về khía cạnh khác, điều khoản đó là khó hiểu và đối lập với sự tạo thuận lợi trong kinh doanh. Nhưng một lần nữa, liệu FDI có cố tình hay vô tình tạo cơ sở cho sự kìm hãm các doanh nghiệp địa phương? Không! Bằng chứng là các điều khoản của mục 80 (i) và các tiểu mục (a), (b), (c) và (d) lại tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư FDI trong khi vẫn đáp ứng mục tiêu chính sách tổng thể nhằm kích thích nền kinh tế của Nigeria.
Điều khoản thứ hai quy định cơ chế cho một công ty nước ngoài nộp đơn lên Bộ trưởng Thương mại để được miễn trừ các quy định của mục 78 nêu trên, nếu công ty đó thuộc một trong các trường hợp sau: (a) các công ty nước ngoài không phải là những công ty được quy định trong đoạn (d) được mời đến Nigeria hoặc được sự chấp thuận của Chính phủ Liên bang để thực hiện dự án cá nhân cụ thể; (b) các công ty nước ngoài đến Nigeria để thực hiện các dự án cho vay cá nhân cụ thể thay mặt cho một quốc gia tài trợ hoặc tổ chức quốc tế; (c) các công ty thuộc sở hữu của chính phủ nước ngoài chỉ tham gia vào xúc tiến xuất khẩu; và (d) các chuyên gia tư vấn và chuyên gia kỹ thuật tham gia vào các dự án chuyên môn riêng lẻ theo hợp đồng của chính phủ hoặc cơ quan của họ với Liên bang, hoặc với bất kỳ cơ quan hoặc cá nhân nào khác đã được Chính phủ Liên bang phê duyệt.
Sự thu hút đố với FDI chính là nền kinh tế liên kết nước ngoài, do vậy chính phủ và các cơ quan quản lý luôn phải cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo các lợi ích được yêu cầu có thể đạt được trong thực tế.
Các thông số đánh giá sẽ đánh giá trước và định kỳ các doanh nghiệp FDI để không tạo ra sự độc quyền và các tổ chức độc quyền làm tổn hại đến khả năng cạnh tranh và đổi mới; tạo điều kiện cho việc chuyển giao kỹ năng phù hợp; tạo ra việc làm bền vững; tối ưu hóa nguồn thu tài khóa cho nền kinh tế liên kết nước ngoài; tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng vốn vào ra hợp pháp và minh bạch theo cách thức cùng có lợi cho nền kinh tế của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài và chi nhánh nước ngoài của nó; cộng với đóng góp tích cực vào tổng sản phẩm quốc nội của công ty liên kết nước ngoài.
Ví dụ, sau nhiều tháng đàm phán mua bán và sáp nhập xuyên biên giới phức tạp giữa Nvidia - một công ty phần mềm của Mỹ và ARM - một nhà thiết kế vi mạch của Vương quốc Anh vào năm 2020; Cơ quan Cạnh tranh và Thị trường (CMA) của Vương quốc Anh khi phân tích chi tiết đã đưa ra quan điểm rằng thỏa thuận sẽ gây tổn hại đến sự cạnh tranh trong các phân khúc thị trường chính của ngành bán dẫn. Thỏa thuận trị giá 40 tỷ đô la được đề xuất đã bị hủy bỏ vào năm 2022!
Theo Báo cáo Kinh tế Thế giới của UNCTAD, giá trị toàn cầu của các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài vào năm 2021 là khoảng 1,58 nghìn tỷ USD. Đến cuối năm 2020, 10 quốc gia nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu thế giới là Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Singapore, Thụy Sĩ, Hà Lan, Đức, Ireland và Luxembourg.
Ở khu vực Châu Phi cận Sahara (SSA), Nam Phi là nước liên tục được nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất. Trong các năm 2019, 2020 và 2021, quốc gia này được đầu tư lần lượt 4,6 tỷ USD; 3,1 tỷ USD và 40,9 tỷ USD.
Trong cùng thời kỳ, Ghana được đầu tư 3,88 tỷ USD vào năm 2019; 1,88 tỷ USD vào năm 2020 và 2,6 tỷ USD vào năm 2021. Ethiopia nhận được 2,5 tỷ USD vào năm 2019, 2,4 tỷ USD vào năm 2020 và 4,3 tỷ USD vào năm 2021. Tiếp đến, Nigeria, được hưởng lợi từ đầu tư nước ngoài đầu tư đạt 3,3 tỷ USD vào năm 2019; 2,4 tỷ USD vào năm 2020 và 4,8 tỷ USD vào năm 2021.
Những tác động của đại dịch COVID-19 đã làm ảnh hưởng đến các khoản đầu tư FDI vào mỗi thành viên trong SSA cũng giống như trên toàn cầu. Tuy nhiên, một điều đáng chú ý là chỉ riêng Nam Phi, vào năm 2021, đã thu hút được 40,9 tỷ USD vốn FDI, nhiều hơn tổng số vốn FDI gộp lại (31,26 tỷ USD) vào Ghana, Nigeria và Ethiopia trong các năm 2019, 2020 và 2021.
Điều này đặt ra một số các câu hỏi: Có phải Nam Phi tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh hơn 3 nền kinh tế khác của SSA không? Nam Phi có các chính sách kinh tế xã hội ổn định hơn so với các nền kinh tế SSA khác không? Các hệ thống chính trị có ổn định hơn và tham nhũng ít hoành hành hơn không? Dựa trên các chỉ số đo lường đầu tư trực tiếp nước ngoài, câu trả lời cho những câu hỏi đó là Có.
Do đó, các khuyến nghị kết luận liên quan đến việc thu hút FDI lớn hơn vào 4 nền kinh tế châu Phi được chọn làm đại diện (Ethiopia, Ghana, Nigeria và Nam Phi) đối với tất cả các SSA khác phải bao gồm: giảm quy định bị hạn chế và thiếu minh bạch; giải quyết vấn đề tham nhũng; đơn giản hóa chính sách tiền tệ và tài khóa bao gồm đơn giản hóa cơ chế tỷ giá hối đoái; gắn kết sự nhất quán trong thiết lập chính sách; phân biệt rõ với các chính sách về chính trị; nâng cao nâng lực lãnh đạo hướng đến xây dựng tính dân chủ. Thực hiện tối ưu hóa FDI như một động lực kinh tế trong các nước SSA và hơn thế nữa.
Tiếp cận thông tin đối xứng và thị trường hiệu quả có nhiều khả năng được thực hiện thành công hơn việc tăng cường nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), như Peter Drucker nêu ở trên.
Nguồn: The Guardian
Từ khóa: Vùng Châu Phi cận Sahara, FDI, đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển kinh tế






















