Gần đây, Đại điện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã thông báo họ sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán thương mại chính thức với Đài Loan. Nhiệm vụ đàm phán bao gồm 11 lĩnh vực đàm phán khác nhau, sắp xếp từ chương thuận lợi hóa thương mại đến chương lao động và môi trường. Giống Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ- Thái Bình Dương (IPEF) của chính quyền ông Biden, quyền tiếp cận thị trường (như xóa bỏ/ cắt giảm thuế quan) đáng chú ý là không có trong thông báo của Đài Loan, điều này thật đáng tiếc. Vì nhiều lý do, Hoa Kỳ cần một chương trình nghị sự thương mại và đầu tư ở châu Á- Thái Bình Dương mạnh mẽ và khẳng định hơn. Cả IPEF và các cuộc đàm phán với Đài Loan đều không mang lại kết quả.
Vì các lý do kinh tế và địa chính trị, ngày càng rõ ràng là Hoa Kỳ cần phải linh hoạt cơ dẫn dắt kinh tế quốc tế ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Hiện tại, Hoa Kỳ chỉ có hai hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước châu Á- lần lượt là Hàn Quốc và Singapore. Như Evan Feigenbaum của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế đã lưu ý: Hoa Kỳ quá chú trọng vai trò an ninh ở châu Á và tiếp tục không để tâm tới vai trò kinh tế của mình. Không giống như châu Âu ngày càng “già nua”, châu Á năng động và thay đổi nhanh chóng. Việc dỡ bỏ các rào cản thương mại, đầu tư và thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng cao trong khu vực nên là ưu tiên hàng đầu của chương trình kinh tế quốc tế của Mỹ.
Hai chính sách đã thống trị chương trình kinh tế châu Á- Thái Bình Dương của chính quyền ông Trump. Đầu tiên, một trong những hành động chính thức đầu tiên của chính quyền tổng thống Trump là rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại chất lượng cao và tham vọng với sự tham gia của 11 nước Vành đai Thái Bình Dương. Viện Cato đã phát hành một báo cáo phân tích toàn diện, từng chương về TPP và nhận thấy rằng: trên thực tế, thỏa thuận sẽ tự do hóa thương mại và đáng được các thương nhân tự do ủng hộ mặc dù một số người vẫn phải chịu các biện pháp bảo hộ thương mại. Quyết định của chính quyền Trump khi rút khỏi một hiệp định đầy hứa hẹn đã làm mất uy tín và ảnh hưởng mạnh vào quyền lực mềm của Mỹ. Thật vậy, ngoài cuộc chiến với Iraq, đây có lẽ là sai lầm chính sách đối ngoại lớn nhất mà Mỹ kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Các thành viên còn lại của TPP vẫn tiếp tục tham gia hiệp định và đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Thứ hai, chính quyền Trump đã phát động chiến tranh thương mại thiếu thận trọng với Bắc Kinh và để những cơ hội kinh tế khác trong khu vực vụt mất. Khi các quốc gia trong khu vực đã ký kết nhiều thỏa thuận thương mại và đầu tư thì Hoa Kỳ từng là quốc gia dẫn đầu thế giới về tự do hóa thương mại, lại đứng ngồi không yên.
Như đã được đề cập, CPTPP hiện đã có hiệu lực và Bắc Kinh, Đài Bắc và Seoul cùng với những nước khác đã nộp đơn xin gia nhập CPTPP. Tương tự việc xin gia nhập của Trung Quốc vào CPTPP, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mà Trung Quốc đang là thành viên đã giúp cắt giảm thuế quan và thiết lập một số hài hòa hóa quy định cũng đang có hiệu lực. Nói cách khác, Hoa Kỳ đã mất quyền định hình các điều khoản hội nhập kinh tế và xác lập tiêu chuẩn ở châu Á. Những nước khác- đặc biệt là Trung Quốc- đang lấp đầy khoảng trống trên. Thật vậy, chính quyền ông Biden dường như nhận thức rằng các lệnh trừng phạt của Mỹ đang gây hại cho các công ty Mỹ và nhường cho các tổ chức khác thiết lập tiêu chuẩn quan trọng.
Trước đây, các học giả Viện Cato đã từng đồng thuận một hiệp định thương mại tự do song phương (FTA) với Đài Loan. Đài Loan là nhà cung ứng chất bán dẫn quan trọng và là đối tác thương mại khá lớn của Hoa Kỳ. Cả hai sẽ cùng hưởng lợi từ thương mại mở rộng và tự do hóa đầu tư. Điều cản trở nhất đối với quan hệ thương mại Hoa Kỳ- Đài Loan mở rộng là việc Đài Loan không muốn thừa nhận một số sản phẩm thịt heo và thịt bò từ Mỹ. Nhưng sau đó, Đài Loan đã dở bỏ một phần lệnh cấm và hai bên dường như đã sẵn sàng để đàm phán thỏa thuận thương mại. Tuy nhiên, hai nước không nên thiết lập một hiệp định kém chất lượng. Vẫn có cách tốt hơn cho cả Washington và Đài Bắc.
Thay vì đàm phán các thỏa thuận nửa vời- không đề cập quyền tiếp cận thị trường và gần như chắc chắn không có cơ chế giải quyết tranh chấp mạnh mẽ- với các nước IPEF như Đài Loan, phương thức thông minh và dễ dàng nhất là tái thiết vai trò dẫn dắt kinh tế quốc tế của Mỹ trong khu vực, đơn giản là xin gia nhập lại vào CPTPP. Những thay đổi có thể xảy ra nhanh chóng khi các thành viên còn lại của CPTPP mong muốn tăng cường hội nhập kinh tế của nước mình với Mỹ. Một khi Mỹ tái gia nhập CPTPP, Mỹ cần kêu gọi tất cả các bên xúc tiến việc gia nhập của Đài Loan.
Về mặt kinh tế, người tiêu dùng Mỹ- cả cá nhân và công ty- sẽ hưởng lợi từ việc cắt giảm thuế quan ở Mỹ và các nhà xuất khẩu Mỹ sẽ thấy khả năng tiếp cận thị trường cao hơn cho hàng hóa và dịch vụ trong khối thương mại mới. Tương tự như thế, bằng cách thông qua khuôn khổ CPTPP hiện có, Hoa Kỳ có thể thể hiện sức ảnh hưởng đáng kể về thiết lập các tiêu chuẩn sẽ chi phối thương mại trong khu vực- từ thương mại kỹ thuật số đến các doanh nghiệp nhà nước và trợ cấp công nghiệp- trong thế kỷ 21 so với khi Mỹ sẽ ở nằm ngoài khối thương mại CPTPP của châu Á.
Có lẽ quan trọng hơn các lợi ích kinh tế của thành viên CPTPP là vấn đề địa chính trị và cụ thể là quyền lực không chính thức ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Như ông Scott Lincicome thuộc Viện Cato gần đây đã lưu ý, TPP được thiết kế để ngăn chặn sức ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc ở châu Á theo ba cách. Thứ nhất, TPP đã cung cấp một thị trường chung thay thế cho Trung Quốc. Đồng nghĩa TPP giúp “thay đổi hành vi của các chuỗi cung ứng châu Á- Thái Bình Dương tách khỏi Trung Quốc và hướng về Hoa Kỳ.” Tương tự như vậy, TPP cũng cung cấp một diễn đàn hợp tác, tham vấn, đàm phán và nếu cần, giải quyết tranh chấp phát sinh dựa trên các điều khoản trong hiệp định, cơ chế nhanh nhẹn hơn hệ thống giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Cuối cùng, do TPP được thiết kế như một hiệp định năng động và là một nền tảng cho các thành viên mới tham gia, Mỹ có thể sử dụng vị thế của mình trong cấu trúc để hỗ trợ lợi ích thành viên cho các đồng minh thân cận như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Vương quốc Anh.
Như đã đề cập, Trung Quốc cũng đã nộp đơn xin gia nhập CPTPP. Hoa Kỳ sẽ có khả năng ngăn cản Trung Quốc gia nhập nếu nước này trở thành thành viên chính thức của hiệp định. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng có thể tận dụng vai trò thành viên của CPTPP để khiến Bắc Kinh thực hiện một số thay đổi đối với các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, điều mà chiến tranh thuế quan đã không đạt được. Trung Quốc sẽ cần thực hiện một số nhượng bộ nghiêm túc với những đảm bảo và bổ sung các thủ tục giải quyết tranh chấp cần thiết nếu Bắc Kinh tham gia.
Lợi ích trở thành thành viên của CPTPP sẽ không phải là phương pháp khắc phục những thách thức trong mối quan hệ Mỹ- Trung hoặc nền kinh tế nhà nước đang gặp khó khăn của Trung Quốc, nhưng CPTPP chắc chắn là một cách tiếp cận tốt so với tiếp tục chiến tranh thuế quan, thực hiện các thỏa thuận quốc tế kém chất lượng.
Chính quyền ông Biden không giống chính quyền Trump, dường như nhận thức rõ cần phải có một chương trình nghị sự kinh tế quốc tế ở châu Á- Thái Bình Dương. Nhưng nếu chỉ đơn giản nhận ra vấn đề trong các cuộc đàm phán nhỏ thì không thể phù hợp với một chương trình kinh tế châu Á- Thái Bình Dương tham vọng với thành viên của CPTPP. Thương mại có thể là động lực tăng trưởng, gây áp lực giảm giá ở Mỹ và củng cố uy tín và tầm ảnh hưởng của Mỹ trong một khu vực ngày càng quan trọng trên thế giới- nếu các nhà hoạch định chính sách cho phép.
Nguồn: Cato
Từ khóa: CPTPP, Hoa Kỳ- Đài Loan, Trung Quốc






















