JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnChuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á, Vương quốc Anh có đủ sức phục hồi nền kinh tế?

Chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á, Vương quốc Anh có đủ sức phục hồi nền kinh tế?

uk

Mặc dù khi rời Liên minh châu Âu, chính phủ Anh phải bắt đầu thay đổi chính sách thương mại lớn nhất của họ trong 50 năm, nhưng hiện tại cho thấy chính phủ vẫn chưa đưa ra chiến lược thương mại.

Sự phát triển của Vương quốc Anh kể từ thế kỷ 18 chủ yếu dựa vào các liên kết thương mại toàn cầu và tự do thương mại. Vì vậy nhiều chuyên gia kỳ vọng sẽ có những chiến lược thương mại rõ ràng được đưa ra trong cuộc tranh cử vị trí lãnh đạo của Đảng Bảo thủ.

Nhưng thực tế không phải như vậy. Các ứng cử viên hầu như không đề cập đến vấn đề thương mại, ngoại trừ Liz Truss thỉnh thoảng khoe về việc ký kết liên tục 34 hiệp định thương mại; tuy nhiên đó chỉ là những hiệp định được ký trước đây khi Vương quốc Anh vẫn còn là thành viên của Liên minh EU.

Chiến lược của Chính phủ hoặc các ứng cử viên lãnh đạo mới đây là nên tránh bất cứ điều gì liên quan đến châu Âu ở bất cứ nơi nào có thể.

Mối quan hệ mới chớm nở của Vương quốc Anh với châu Á về cơ bản là một giải pháp mang tính khoa trương và chiến thuật. Chiến lược “Nước Anh toàn cầu” được đề xuất ngay sau cuộc trưng cầu dân ý về Brexit, nhưng do những căng thẳng chính trị, việc tìm kiếm khuôn mẫu bền vững sau Brexit thì hoàn toàn không đưa ra.

Đánh giá về chiến lược hội nhập của chính phủ “Nước Anh toàn cầu trong kỷ nguyên cạnh tranh” được xuất bản vào tháng 3 năm 2021, đã khuyến khích “chuyển trọng tâm về châu Á” và chỉ ra sự thuận lợi khi hợp tác với lục địa này. Mặc dù trong nội dung có đề cập đến vấn đề “Đặt thương mại là lĩnh vực trọng tâm trong chiến lược nước Anh toàn cầu”, tuy nhiên ý tưởng này không  có tiến triển sau các tuyên bố nhàm chán trước đây.

Hiệp định thương mại tự do Vương quốc Anh- Nhật Bản mà chính phủ tuyên bố là Hiệp định  thế hệ mới đầu tiên (thực chất là được sao chép từ Hiệp định giữa EU và Nhật Bản) đã gây thất vọng ban đầu về những tác động thương mại.

Tiếp sau đó, Vương quốc Anh đã ký các hiệp định thương mại với Úc với New Zealand và hiệp định kỹ thuật số với Singapore. Mỗi hiệp định đều mang lại một số lợi ích và tăng sự hiện diện thương mại của Vương quốc Anh ở khu vực Thái Bình Dương.

Nhưng điều đầu tiên là nó đã gây ra sự phản đối đáng kể từ các nhóm nông nghiệp và môi trường. Điều này cũng thuyết phục được chính phủ rằng việc ký kết các hiệp định thương mại không phải dễ dàng như họ đã tưởng tượng.

Tại Vương quốc Anh, các hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết theo đặc quyền của hoàng gia và nằm dưới sự kiểm soát của cơ quan hành pháp. Chính phủ được đề nghị giữ vai trò tích cực hơn đối với quốc hội trong việc phát triển các FTA, nhưng lại gặp khó khăn trong việc thực thi thỏa thuận.

Sự phản đối của tổ chức xã hội dân sự về thỏa thuận với Úc là điềm báo cho các thỏa thuận trong tương lai với châu Á, do có sự khác biệt về khoảng cách về mặt địa lý, văn hóa và chính trị khác biệt. Tuy nhiên, cũng rất khó để dự đoán về giải pháp mà chính phủ sẽ đưa ra.

Tân Thủ tướng - Liz Truss không thích bị soi xét nhiều như người tiền nhiệm. Liz Truss muốn đạt được kết quả nhanh chóng và tỏ ra thoải mái với tình trạng xáo trộn về sự đa dạng của chính sách thương mại. Vì vậy, lợi ích chính trị khi đàm phán các hiệp định thương mại thế hệ mới có vẻ không được xem trọng. Mặt khác, Thủ tướng có vẻ thích thu hút sự quan tâm của các tổ chức xã hội dân sự “tiến bộ”.

Các chiến lược hiện nay của chính phủ là gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các cuộc đàm phán FTA với Ấn Độ. CPTPP đã chấp nhận đơn gia nhập của Vương quốc Anh và các cuộc đàm phán hiện nay đang tập trung vào việc tiếp cận thị trường.

Ngoài những căng thẳng theo chủ nghĩa trọng thương thông thường mà các cuộc đàm phán tạo ra, Vương quốc Anh có thể sẽ phải thay đổi các chính sách về thương mại kỹ thuật số, đầu tư và các tiêu chuẩn thực phẩm.

Các hiệu quả của hoạt động thương mại sẽ giảm đi vì Vương quốc Anh đã có hiệp định thương mại với 9 trong số 11 thành viên CPTPP. The ước tính của chính phủ, CPTPP góp phần tăng giao dịch thương mại của Vương quốc Anh thêm 3,3 tỷ bảng Anh (3,8 tỷ đô la Mỹ) trong thời gian dài, từ mức 109 tỷ bảng Anh (125 tỷ đô la Mỹ), tương đương 8% tổng thương mại của Vương quốc Anh vào năm 2019. Tuy nhiên, Vương quốc Anh gia nhập CPTPP  mang tính địa chính trị hơn lợi ích thương mại.

Việc đàm phán FTA với Ấn Độ cũng mang tính địa chính trị, nhưng cũng đem lại những lợi ích thương mại tiềm năng. Bởi vì tốc độ phát triển nhanh chóng, các rào cản thương mại cao và cơ cấu kinh tế khác với Vương quốc Anh, Ấn Độ được xem là một đối tác đầy tiềm năng.

Theo ước tính cúa chính phủ Anh, thương mại giữa Anh và Ấn Độ sẽ tăng 10 tỷ bảng Anh (11,5 tỷ đô la Mỹ) trong giai đoạn 2019–2035, nhưng chính phủ kỳ vọng  FTA sẽ mang lại mức tăng trưởng 28 tỷ bảng Anh (32,2 tỷ đô la Mỹ), so với tổng số giá trị thương mại năm 2019 đạt được 23 tỷ bảng Anh (26,5 tỷ đô la Mỹ).

Tuy nhiên, có khoảng 40% trong tổng giá trị thương mại trên phát sinh do sự chuyển hướng thương mại của chính phủ Anh- nghĩa là Vương quốc Anh đã giảm hoạt động thương mại với các đối tác khác.

Nghị viện đã lưu ý những thách thức của Hiệp định thương mại giữa Anh và Ấn Độ và lo ngại rằng chính phủ muốn đẩy nhanh tiến độ hơn là chú trọng hiệu quả.

Điều nổi bật trong chiến lược ‘chuyển trọng tâm sang châu Á’ là hoàn toàn không nhắc đến Trung Quốc. Nếu Thủ tướng Truss thực hiện theo cam kết xem Trung Quốc - đối tác thương mại lớn thứ ba của Vương quốc Anh - cũng là "mối đe dọa" an ninh quốc gia, thì sẽ không thể dựa vào Trung Quốc để cải thiện hoạt động thương mại của Vương quốc Anh. Mặc dù gia nhập CPTPP sẽ có ích, nhưng điều này không có nghĩa là phát triển chiến lược thương mại với Trung Quốc.

Một câu hỏi đặt ra là liệu ký kết các FTA với các quốc gia châu Á có bù đắp được sự sụt giảm thương mại do Brexit gây ra với Liên minh EU hay không. Kim ngạch thương mại với Liên minh EU giảm 673 tỷ bảng Anh (775 tỷ đô la Mỹ) vào năm 2019 và dự đoán sẽ tiếp tục giảm 11,4% (77 tỷ bảng Anh hoặc 89 tỷ đô la Mỹ) vào khoảng năm 2035.

Theo ước tính việc thực hiện Brexit từ tháng 1 năm 2021 đã làm kim ngạch xuất khẩu của Anh sang Liên minh châu Âu trong nửa đầu năm 2021 giảm 14% so với giai đoạn 2017–2020 và giảm kim ngạch nhập khẩu 24%. Tình hình có thể được cải thiện kể sau đó nhưng không nhiều.

Mặt khác, khoảng cách địa lý với châu Á sẽ làm giảm hoạt động thương mại và những lợi ích tiềm năng của các FTA. Chính phủ Anh sẽ gặp những khó khăn trong việc thay thế các chuỗi cung ứng kịp thời và linh hoạt, đặc trưng cho thương mại giữa Liên minh châu Âu với Vương quốc Anh.

Nguồn: East Asia Forum

Từ khóa: Châu Á, Vương quốc Anh, phục hồi kinh kế, chiến lược “Nước Anh toàn cầu”

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789873
Go to top