Chiến tranh thương mại Mỹ- Trung đã tác động mạnh lên hệ thống thương mại quốc tế dựa trên quy tắc vì các mục đích chính trị cá nhân
Thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức chưa có tiền lệ và đầy khó khăn như chiến tranh thương mại Mỹ- Trung, cuộc tấn công Nga- Ukraine, đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu và tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng.
Hậu quả của những thách thức này là sự phân chia kinh tế thế giới thành hai hay nhiều khối chính trị và không giống như tình trạng diễn ra trước Chiến tranh Thế giới Thứ hai.
Để ngăn chặn quá trình trên, hệ thống thương mại quốc tế dựa trên quy tắc cần được nâng cấp để giải quyết các vấn đề Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) phải đối mặt. Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh khốc liệt trong nhiều lĩnh vực bao gồm sức mạnh về quân sự, tiến bộ khoa học công nghệ và vị thế lãnh đạo toàn cầu.
Mỹ đã áp dụng chiến lược đánh thuế quan cao đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, ngoài mặt là nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại được cho là mang lại lợi ích không công bằng cho Trung Quốc.
Hành động của Mỹ đã khởi động cho cuộc chiến thuế quan, Trung Quốc cũng đã đáp trả bằng cách tăng thuế quan nhập khẩu đối với hàng hóa từ Mỹ. Những hành động đơn phương này sẽ không được phép trong một hệ thống thương mại quốc tế cấp tiến hơn.
Các chính sách ưu tiên đơn phương của quốc gia như “Nước Mỹ trên hết” và “Trung Quốc trên hết” vi phạm các quy tắc thương mại quốc tế. Các nước không công bằng và gây thiệt hại cho những quốc gia khác, đồng nghĩa đang tự gây ảnh hưởng cho bản thân khi góp phần vào sự sụt giảm nghiêm trọng trong thương mại song phương, cũng như tác động đến dòng thương mại của các nước khác.
Nhật Bản, một cường quốc bậc trung hưởng lợi đáng kể từ thương mại tự do, có vai trò quan trọng trong việc định hướng một hệ thống thương mại quốc tế dựa trên quy tắc nâng cấp hơn. Việc định hướng nên được thực hiện với các quốc gia cùng chí hướng như Australia, Canada, New Zealand và Singapore.
WTO được thành lập năm 1995 để thúc đẩy thương mại quốc tế và giải quyết các vấn đề mà Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) trước đây phải đối mặt. WTO có hai chức năng chính.
Một là thiết lập và thực thi các quy tắc thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại tự do bằng cách khởi động các cuộc đàm phán thương mại đa phương. Bởi vì các hoạt động kinh tế quốc tế đã mở rộng từ hàng hóa sang lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, các quy tắc của WTO cũng vậy.
Chức năng khác là để giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO. WTO đã cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp bằng cách đưa ra một hệ thống hai cấp- ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm.
Cơ chế giải quyết tranh chấp đã hoạt động tương đối tốt cho tới Mỹ phủ quyết việc bổ nhiệm các thẩm phán cho Cơ quan Phúc thẩm, vì Cơ quan này giải quyết quá nhiều vụ kiện so với cơ chế giải quyết tranh chấp mà GATT từng thực hiện.
Trong khi số vụ tranh chấp được GATT đưa ra từ năm 1948- 1994 chỉ có tổng cộng là 314 vụ thì số vụ đưa lên WTO lên tới 598 vụ chỉ trong giai đoạn 1995- 2019. Mỹ cho rằng Cơ quan Phúc thẩm đưa ra các quyết định vượt quá thẩm quyền của mình và cơ quan này đã phải ngừng hoạt động vào tháng 12/2019. Bất kỳ quyết định nào của ban hội thẩm đều được gửi đến Cơ quan Phúc thẩm đều bị gác lại.
Các thành viên WTO phải thống nhất cách giải quyết tình trạng đình chỉ của Cơ quan Phúc thẩm hiện nay. Tháng 3/2020, một nhóm 16 thành viên WTO do Liên minh châu Âu và Canada dẫn đầu đã thiết lập một hệ thống kháng cáo riêng, Thỏa thuận Trọng tài Khiếu nại Tạm thời Đa bên gọi tắt là MPIA.
Đối với tranh chấp giữa các thành viên tham gia, MPIA được xem là một giải pháp tạm thời trong thời gian Cơ quan Phúc thẩm WTO bị đình chỉ. Nhật Bản nên tham gia MPIA và dẫn dắt các cuộc thảo luận để khắc phục vấn đề tranh chấp thông qua các khuyến nghị.
WTO thiết lập các quy tắc mới nhằm mở rộng nhanh chóng các hoạt động kinh tế quốc tế như đầu tư và thương mại kỹ thuật số- các vấn đề quan trọng trong cuộc cạnh tranh Mỹ- Trung, tuy nhiên lại không mang lại hiệu quả. Tiến hành các cuộc đàm phán thương mại đa phương đã trở nên khó khăn hơn, bởi vì chúng đòi hỏi sự đồng lòng giữa các thành viên WTO mở rộng.
WTO đã theo đuổi hai cách tiếp cận để nâng cấp trật tự thương mại quốc tế dựa trên quy tắc thông qua việc khắc phục hoạt động xây dựng luật lệ kém hiệu quả. Một là thông qua các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) giúp thúc đẩy thương mại giữa các thành viên bằng cách loại bỏ các rào cản thương mại.
Tác động của việc mở rộng thương mại thường lớn hơn đối với RTAs do có nhiều thành viên hơn. Trong những năm gần đây, RTAs đề cập đến nhiều vấn đề bao gồm thương mại dịch vụ, đầu tư, thương mại kỹ thuật số và quyền sở hữu trí tuệ. Lĩnh vực mở rộng đã giúp hướng tới tự do hóa và thiết lập các quy tắc để đối phó với các hoạt động thương mại không công bằng.
Các Mega- RTAs chẳng hạn như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) dự kiến sẽ làm tăng số lượng thành viên và mở rộng phạm vi ảnh hưởng quốc tế của hệ thống thương mại dựa trên quy tắc.
Nhật Bản là một thành viên của cả hai RTAs này, mặc dù Trung Quốc cũng là một thành viên của RCEP và đã nộp đơn xin gia nhập CPTPP. Tuy nhiên, Nhật Bản và các thành viên khác của CPTPP phải đảm bảo rằng Trung Quốc thỏa mãn tất cả các điều kiện để trở thành thành viên chính thức và phải đáp ứng cả điều kiện không được phân biệt đối xử và dành ưu đãi chỉ với các doanh nghiệp nhà nước nếu muốn gia nhập. Làm như vậy sẽ giúp Trung Quốc điều chỉnh các hành vi thương mại bất công.
Cách tiếp cận khác là thúc đẩy các hiệp định đa phương, trong đó các quốc gia cùng chí hướng đồng thuận các quy tắc xoay quanh một vấn đề cụ thể và không cần sự đồng thuận của các thành viên WTO. Trong khi tại WTO, kế hoạch hành động thường bắt đầu bằng các sáng kiến tuyên bố chung.
Một số cuộc đàm phán hiệp định đa phương về thương mại điện tử, thuận lợi hóa đầu tư, môi trường và quy định trong nước về dịch vụ đã được tiến hành hoặc hoàn tất ký kết.
Nhật Bản đã và đang tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán này và là một trong những nước khởi xướng sáng kiến tuyên bố chung về thương mại điện tử. Các hiệp định đa phương có thể tạo điều kiện thuận lợi để ký kết các hiệp định riêng lẻ bởi vì chỉ những nước quan tâm mới phải thực hiện các cam kết.
Các nước không phải thành viên cũng không phản đối các hiệp định thương mại tự do bởi họ vẫn nhận những lợi ích từ các thỏa thuận theo mức thuế tối huệ quốc (MFN).
Các quốc gia và nền kinh tế tham gia vào các cuộc đàm phán cần ghi nhớ rằng mục đích cuối cùng của việc thông qua hai cách tiếp cận là để thiết lập một hệ thống thương mại toàn cầu dựa trên quy tắc bao gồm nhiều vấn đề.
Để đạt mục đích trên, các quốc gia và nền kinh tế tham gia vào RTAs và các hiệp định đa phương cần cởi mở để mở rộng số lượng thành viên và phạm vi lĩnh vực quan tâm.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng luật cứng như quy tắc WTO, một cách tiếp cận “luật mềm” cũng rất hữu ích. Một ví dụ là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) mà Nhật Bản là một thành viên.
Các quy tắc tham vọng và cấp cao có thể được thảo luận tại APEC bởi vì việc tham gia hiệp định là dựa trên tinh thần tự nguyện. Các cuộc thảo luận tại APEC góp phần hoàn thiện các quy tắc của WTO, điển hình là Hiệp định Công nghệ Thông tin.
Đối với nền kinh tế Nhật Bản- đối mặt với một thị trường nội địa bị thu hẹp do dân số giảm- thành công kinh tế của các công ty Nhật tại các thị trường nước ngoài là điều quan trọng hàng đầu. Việc tái lập một hệ thống thương mại quốc tế dựa trên quy tắc sẽ cho phép Nhật Bản và các nước khác duy trì mức tăng trưởng kinh tế của mình.
Nguồn: Asia Times
Từ khóa: trật tự kinh tế toàn cầu, Nhật Bản, hiệp định thương mại tự do






















