Luật khí hậu mới giúp các khoản tín dụng thuế của các công nghệ gây tranh cãi về khả năng sinh lợi nhiều và dễ tiếp cận hơn
Tổng thống Joe Biden đã ký Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) vào tuần trước, có giá trị hàng trăm tỷ đô la về ưu đãi thuế và giảm giá để hỗ trợ các công ty và người dân mỗi ngày chuyển sang sử dụng năng lượng sạch. Trong khi một số khoản trợ cấp mới sẽ giúp gia tăng các công nghệ tái tạo như năng lượng gió và năng lượng mặt trời, Đạo luật giảm lạm phát cũng cung cấp các ưu đãi hào phóng cho việc thu và lưu trữ cacbon, hoặc CCS - các dự án được thiết kế để giữ khí thải cacbon dioxide từ các nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch hoặc các cơ sở công nghiệp và sau đó bơm CO2 xuống sâu dưới lòng đất, ngăn không cho nó xâm nhập vào khí quyển.
Từ lâu dự án CCS đã gây tranh cãi do giá thành cao, nhiều dự án thất bại trước đây và vẫn tiếp tục sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Hiện ở Hoa Kỳ chỉ có một số ít các cơ sở thu giữ cacbon và hầu hết CO2 thu được sẽ bị chôn vùi trong các mỏ dầu lâu đời để đẩy dầu lên bề mặt. Nhiều chuyên gia ủng hộ chính sách khí hậu hoài nghi rằng dự án CCS có thể cắt giảm lượng khí thải đáng kể, hoặc không gây hại cho các cộng đồng lân cận. Liên minh Công lý Khí hậu (CJA), một tổ chức liên minh gồm 82 nhóm tư pháp về môi trường, đã tố cáo IRA vì trợ cấp cho việc thu giữ cacbon.
Mặc dù các công ty điện lực có rất nhiều lựa chọn để sản xuất điện không có carbon như năng lượng mặt trời, gió và hạt nhân thì các chuyên gia cho rằng dự án CCS là giải pháp về khí hậu có tiềm năng nhất cho các ngành khác sử dụng nhiều carbon. Matt Bright, người quản lý chính sách thu giữ cacbon tại Tổ chức phi lợi nhuận Clean Air Task Force cho biết “Ngành công nghiệp thép và xi măng trên thực tế không có giải pháp khử cacbon nếu không sử dụng thiết bị thu giữ cacbon”. Đó là vì các nhà máy thép và xi măng thải ra CO2 không chỉ từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch mà còn từ các phản ứng hóa học. Bright nói “Bất ngờ, một công nghệ thực sự khả thi đối với họ đã nằm trong tầm tay”.
Đạo luật IRA thực hiện những thay đổi quan trọng đối với 45Q, một khoản tín dụng thuế hiện có dành cho dự án CCS, hỗ trợ dự án sinh nhiều lợi nhuận và dễ dàng truy cập hơn. Trước đây, các công ty có thể kiếm được 50 đô la cho mỗi tấn CO2 cô lập hoặc 35 đô la nếu chôn CO2 trong quá trình khai thác dầu. Giờ đây, các công ty có thể kiếm được tới 85 đô la hoặc 60 đô la cho mỗi tấn CO2 tương ứng. (Lưu ý: Các khoản tín dụng thuế theo IRA cũng hỗ trợ công nghệ thu nhận không khí trực tiếp, giúp loại bỏ cacbon dioxide đã được thải ra từ khí quyển. Tuy nhiên, quy định này chỉ tập trung vào cacbon thu được từ các nguồn gây ô nhiễm).
Thời gian để phát triển các dự án được ggia hạn thêm. Theo Bright, trước đây các công ty phải bắt đầu xây dựng thiết bị thu giữ cacbon vào năm 2026; mốc thời gian như vậy thì rất cấp bách vì có thể mất từ 2-3 năm để cùng nhau hỗ trợ và hoàn thành kế hoạch dự án ban đầu. Hiện tại, towihowif hạn quy định được kéo dài đến năm 2033.
Đạo luật IRA cũng mở ra cơ hội cho các công ty có nghĩa vụ thuế nhỏ hơn được hưởng lợi từ 45Q bằng cách cho phép thu tín dụng thuế như một khoản thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt thay vì khấu trừ thuế trong 5 năm đầu tiên khi dự án CCS hoạt động. Sau 5 năm, lựa chọn thanh toán trực tiếp hết hạn, tuy nhiên các khoản tín dụng sau đó có thể được chuyển cho một công ty khác có nghĩa vụ thuế lớn hơn để đổi lấy séc.
Thay đổi thứ 4 là Đạo luật IRA giảm đáng kể tổng lượng CO2 mà dự án phải thu nhận hàng năm để đủ điều kiện nhận các khoản tín dụng thuế. Bright cho biết điều này sẽ cho phép các cơ sở nhỏ hơn thải ra ít cacbon hơn để theo đuỗi dự án CCS.
Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến việc trợ cấp cho các nhà máy gây ô nhiễm lớn chỉ thu được một phần khí thải của chúng. Để tránh tình trạng này xảy ra đối với các nhà máy điện, hệ thống CCS phải được thiết kế để thu ít nhất 75% lượng khí thải CO2 từ mỗi đơn vị của nhà máy khi vận hành. Đây là ngưỡng thấp, vì theo giới thiệu thì công nghệ này có thể đạt được tỷ lệ thu giữ lên tới 90%. Joe Smyth, một nhà nghiên cứu tại Viện Năng lượng và Chính sách phi lợi nhuận, cũng lưu ý rằng các dự án trước đây đã thất bại trong việc thu giữ cacbon ở mức được “thiết kế”. Ông nói “Nếu hệ thống được thiết kế để thu ở mức 75% và khi gặp phải một số vấn đề nên phải ngừng, sửa chữa hoặc bất cứ điều gì, thì nhà máy điện vẫn đang vận hành”. Tuy nhiên, Bright cho rằng các nhà phát triển sẽ cố gắng hết sức để thu giữ cacbon càng nhiều càng tốt, vì CCS có giá trị đầu tư hàng triệu đô la, và tín dụng thuế được trả cho mỗi tấn cacbon được thu giữ.
Đạo luật IRA dự kiến sẽ hỗ trợ Hoa Kỳ cắt giảm tổng lượng khí thải xuống khoảng 40% vào năm 2030 so với mức năm 2005, so với mức cắt giảm từ 24 đến 32% ở hiện tại. Tuy nhiên, theo đánh giá về vai trò của CCS sẽ góp phần đạt được tỷ lệ đó. Một phân tích được trích dẫn rộng rãi trong đạo luật IRA của công ty tư vấn Rhodium Group đã chỉ ra CCS có thể chiếm từ 4 đến 6% quá trình giảm lượng khí thải và gia tăng trong những năm tiếp theo. Một phân tích riêng biệt của các nhà nghiên cứu tại Đại học Princeton đã chỉ ra CCS có tiềm năng phát triển nhanh hơn rất nhiều, đóng góp tới 20% lượng khí thải cắt giảm vào năm 2030 và gần 1 tỷ tấn CO2 có thể được chôn vùi vào thời điểm đó.
Tuy nhiên, ước tính chi phí của IRA do một cơ quan nghiên cứu của Quốc hội thực hiện đã đưa ra một kết luận rất khác. Ước tính rằng các khoản tín dụng thuế CCS mới sẽ tiêu tốn của chính phủ 3,2 tỷ đô la trong thập kỷ tới. Điều này đồng nghĩa với việc 53 triệu tấn cacbon sẽ được cô lập nếu được sử dụng để khai thác dầu, hoặc 38 triệu nếu CO2 được chôn dưới lòng đất.
Ngời ra, chưa có quy định CCS sẽ vận hành ở đâu. Cho đến nay, phần lớn cuộc tranh luận về CCS là việc lắp đặt nó ở các nhà máy điện. Bạn có thể đã nghe nói về “than sạch”, một chiến dịch tiếp thị để thu giữ cacbon trên các nhà máy nhiệt điện than. Trong thập kỷ qua, Bộ Năng lượng đã chi hàng trăm triệu đô la để hỗ trợ các dự án CCS cho các nhà máy nhiệt điện than ở Hoa Kỳ, nhưng hiện chỉ có một nhà máy như vậy hoạt động trên thế giới và đó là ở Canada. Gần đây, các công ty điện lực đã đề nghị lắp đặt CCS ở các nhà máy điện khí tự nhiên.
Tuy nhiên, theo mô hình của nhóm Princeton khảo sát cho thấy tỷ lệ quan tâm việc gắn thiết bị bắt giữ cacbon giữa các nhà máy điện và các cơ sở công nghiệp khác là gần như bằng nhau, nhưng theo phân tích của Rhodium Group dự báo sẽ không có dự án CCS nào trong lĩnh vực điện. Ben King, một trong những người lập mô hình tại Rhodium Group, nói rằng so với các điều khoản trong IRA đối với năng lượng gió và mặt trời, cộng với khoản tín dụng thuế mới để duy trì hoạt động của các nhà máy hạt nhân; thì khoản trợ cấp 45Q không đủ hỗ trợ cho các nhà máy than hoặc khí đốt tự nhiên có CCS để cạnh tranh.
Tất nhiên, có một số yếu tố mà các mô hình không thể tính đến. Ông Smyth, Viện Năng lượng và Chính sách - cơ quan giám sát ngành công nghiệp tiện ích, cho biết ở các bang như Wyoming và West Virginia, nơi lĩnh vực nhiên liệu hóa thạch là đóng vai trò chính của nền kinh tế, các chủ nhà máy điện sẽ phải đối mặt với áp lực từ các quan chức được bầu để duy trì việc thu giữ cacbon, ngay cả khi nó không có ý nghĩa về mặt tài chính.
Trong một lá thư bảo vệ Đạo luật IRA gửi Hiệp hội Than Tây Virginia, Thượng nghị sĩ Joe Manchin, người phát thảo chính của dự luật, đã viết rằng “Tôi đã đấu tranh và cung cấp hàng tỷ đô la để giúp ngành công nghiệp than chuyển đổi bằng cách đầu tư vào các công nghệ cần thiết để tiếp tục sử dụng than đá như một nguồn sản xuất điện đáng tin cậy”. Ông tranh luận rằng tùy chọn thanh toán trực tiếp cho các khoản tín dụng thuế CCS sẽ mang lại lợi thế hơn so với năng lượng tái tạo.
Ông Smyth cho biết các dự án CCS về than đi kèm với “một loạt các mối quan tâm chưa được giải quyết, và trong một số trường hợp, việc thu giữ cacbon sẽ làm vấn đề trở nên trầm trọng hơn.” Ví dụ, khi hệ thống thu giữ hoạt động hoàn hảo có thể dẫn đến việc tăng cường khai thác than để cung cấp năng lượng cho thiết bị thu giữ cacbon. Khi đó đốt thêm lượng than đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều tro than, một chất thải độc hại và sử dụng nhiều nước hơn để làm mát nhà máy. Tùy thuộc vào các biện pháp kiểm soát ô nhiễm khác được cài đặt trên thiết bị, điều đó có thể đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều ô nhiễm không khí hơn – có khả năng gây thiệt hại cho những người nghèo hay người da đen.
Theo Smyth, yếu tố quyết định lớn nhất đến việc “than sạch” tồn tại hay chấm dứt là các quy định ô nhiễm mới mà Cơ quan Bảo vệ Môi trường sẽ đề xuất vào năm tới đối với các nhà máy điện than. Chi phí để tuân thủ theo các quy định có thể đủ để chấm dứt hoàn toàn hoạt động của các nhà máy này.
Trong các ngành công nghiệp khó khử cacbon, tỷ suất lợi nhuận của CCS sẽ rất thấp. Bright nói rằng ước tính chi phí thu giữ cacbon tại một nhà máy xi măng bao gồm vận chuyển đến nơi chôn lấp và bơm vào dưới lòng đất khoảng 65 đến 100 đô la cho mỗi tấn CO2. Đối với thép, chi phí trong khoảng 80 đến 90 đô la. Điều đó đồng nghĩa là khoản tín dụng thuế không bao gồm đầy đủ các chi phí của CCS. Các ngành công nghiệp này có thể phải đối mặt với áp lực từ các nhà đầu tư để khử cacbon, nhưng hầu hết các trường hợp thì không có nghĩa vụ pháp lý để cắt giảm cacbon.
Điều quan trọng nhất là trong các dự báo tích cực về CCS đã không đề cập đến yếu tố cần thiết trong tương lai: Để làm cho CCS hoạt động, các nhà phát triển không chỉ lắp đặt thiết bị thu giữ mà còn phải xây dựng hàng nghìn dặm đường ống vận chuyển CO2 và đào giếng để bơm nó vào lòng đất. Theo King “Điều này có thể thực hiện được không? Nếu như điều này có thể thực hiện được thì mức độ cần thiết để có thể phát triển dự án như mô hình mà chúng ta kỳ vọng như thế nào? Tôi nghĩ đó là một trong những câu hỏi lớn nhất”.
Hiện tại, những người nông dân và các nhóm môi trường ở Trung Tây đang đấu tranh để ngăn chặn các công ty thu giữ cacbon xây dựng đường ống dẫn khí CO2. Ở Louisiana, nơi các cộng đồng người Da đen sống phía sau các nhà máy lọc dầu, nhà máy hóa chất và các cơ sở gây ô nhiễm, mong muốn nhà máy đóng cửa hơn là được duy trì với thiết bị thu giữ cacbon. Tamara Toles O’Laughlin, Giám đốc điều hành Hiệp hội các nhà tài trợ môi trường và là người ủng hộ chính sách công bằng về khí hậu, lo lắng rằng các cộng đồng sẽ không có quyền quyết định hoạt động của các dự án. Bà nói rằng những người dễ bị tổn thương “sẽ cần một nền tảng, thông tin và nguồn lực để đưa ra quyết định về việc thu giữ cacbon trong số các giải pháp khác, kể cả phần lớn các quyết định về việc giữ nó trong lòng đất”.
Vào tháng Hai, Hội đồng Nhà Trắng về Chất lượng Môi trường đã ban hành hướng dẫn cho các cơ quan chính phủ để đảm bảo việc thu giữ cacbon “được thực hiện một cách có trách nhiệm với sự tham gia của cộng đồng”. Tuy nhiên, Manchin chỉ đồng ý bỏ phiếu cho IRA khi có thỏa thuận kèm theo để thúc đẩy luật giảm bớt quy trình cấp phép cho các dự án năng lượng, điều này dẫn đến khả năng hạn chế sự tham gia của cộng đồng.
O’Laughlin cho biết: “Điều đáng lo ngại là dự luật về khí hậu đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ được đầu tư rất nhiều thực tế lại mang đến rủi ro cho người dân khi thu giữ cacbon,” O’Laughlin nói: “Các khoản tín dụng thuế sẽ làm tăng số lượng các nhà đầu cơ trong khu vực, tăng số lượng thử nghiệm và tạo ra làn sóng ở những nơi mà cộng đồng sẽ tự vận động để tách những công ty hoạt động gây ô nhiễm môi trường ra khỏi những lợi ích thực sự của cộng đồng.”
Nguồn: Grist
Từ khóa: Đạo luật lạm phát (IRA), chính sách khí hậu, thu giữ Cacbon






















