
Vị thế của Đài Loan như một điểm tiềm tàng gây ra xung đột trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Căng thẳng ngày càng leo thang sau chuyến thăm của bà Nancy Pelosi tới Đài Bắc. Những tính toán sai lầm và nguy cơ gây ra căng thẳng leo thang có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự sau chuyến thăm của bà Pelosi hiện đang gây ra sự bất ổn toàn cầu. Thậm chí nếu có tránh được xung đột, tình hình mới sẽ gây khó chịu với Hoa Kỳ và phương Tây và căng thẳng có thể trở nên tồi tệ hơn.
Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện thiết lập các chính sách “tách biệt” về công nghệ được xem là giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến thương mại. Nhật Bản đang ban hành luật an ninh kinh tế nhằm vào Trung Quốc - một phần để tránh trở thành thiệt hại thế chấp trong các chính sách của Hoa Kỳ. Úc, từng là mục tiêu cưỡng ép thương mại của Bắc Kinh, dường như cũng đã chọn đứng về phía Hoa Kỳ nhằm đa dạng hóa thương mại để hạn chế phụ thuộc vào Trung Quốc.
Các chính sách “tách biệt” này, có thể dự đoán, đã thất bại trong việc xem thường sự hấp dẫn về kinh tế. Thực sự Hoa Kỳ, các đồng minh và các nước toàn cầu vẫn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc.
Trung Quốc là quốc gia thương mại lớn nhất thế giới và ngày càng trở nên quan trọng. Trong khi tổng thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ năm 2020 giảm 3,8 nghìn tỷ USD trong khi năm 2019 đạt 4,2 nghìn tỷ USD vào năm 2019 và phục hồi lên 4,7 nghìn tỷ USD vào năm 2021. Về phía Trung Quốc thì thương mại hàng hóa tăng từ 4,6 nghìn tỷ USD vào năm 2019 lên 4,7 nghìn tỷ USD vào năm 2020 và tăng lên mức đáng kinh ngạc khoảng 6 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2021. Thương mại của Trung Quốc chủ yếu định hướng theo thị trường, không phải do nhà nước định hướng. Khu vực tư nhân chiếm khoảng 92% xuất khẩu của Trung Quốc, trong đó 42% là từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đó là một hạn chế rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách.
Theo dữ liệu của Hoa Kỳ, thương mại hàng hóa giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tăng 19% trong năm 2021 đạt 693 tỷ đô la Mỹ, mặc dù Trung Quốc đã không mua được hàng hóa của Hoa Kỳ theo như thỏa thuận thương mại Giai đoạn Một.
Nguồn vốn đầu tư mới của Hoa Kỳ vào Trung Quốc năm 2021 là 38 tỷ USD, nâng tổng vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Trung Quốc lên 118 tỷ USD. Đầu tư của Nhật Bản vào Trung Quốc cũng tiếp tục gia tăng, giúp nền kinh tế của hai quốc gia hội nhập sâu rộng hơn. Tổng dòng vốn đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc đã tăng 1/3 trong năm 2021 lên mức cao kỷ lục khoảng 334 tỷ USD trong năm. Điều này chứng tỏ có rất nhiều doanh nghiệp vẫn ủy thác vào thị trường Trung Quốc vì có nhiều hoạt động và nhà máy mới thậm chí ngay cả khi biên giới Trung Quốc đóng cửa và cac chính sách zero-Covid được thực hiện nghiêm ngặt.
Mối quan hệ kinh tế cùng nhau có lợi đi ngược lại với việc Washington kỳ vọng trong việc chống lại mọi lợi ích của Trung Quốc trên toàn cầu. Phương pháp giải quyết theo chiến lược zero-sum đối với Trung Quốc đã loại bỏ khuôn khổ của Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên, Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất là quyết định không hoàn hảo để định hướng chính sách trong bối cảnh bức tranh hỗn độn về sự cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau đã được minh chứng bởi các sự kiện trên.
Như Sourabh Gupta giải thích trong bài báo tuần này, Liên Xô và Hoa Kỳ không có lợi ích chung hoặc mục tiêu chung trong Chiến tranh Lạnh. Theo ông “Mục tiêu của Moscow là lật đổ chủ nghĩa tư bản với tư cách là một đối thủ quyền lực về hệ tư tưởng và quyền lực toàn cầu”. Ở diễn biến khác, Trung Quốc về cơ bản tin tưởng vào trật tự do Mỹ dẫn đầu, chứ không phải tìm cách lật đổ một cách đột ngột.
Tháng 7 này đánh dấu 75 năm kể từ khi George Kennan đưa ra ý tưởng về chính sách ngăn chặn trở thành khuôn khổ thiết lập chiến lược zero-sum đối với việc ngăn chặn Liên Xô. Gupta giải thích: “Việc kiểm soát được đặt ra trước khi Washington vẫn giữ vị trí quyền lực thống trị về kinh tế toàn cầu”, “nhưng đối với Trung Quốc vốn là quốc gia có quy mô kinh tế và tiềm năng về nguyên liệu được quản lý bởi chính phủ giỏi hơn Hoa Kỳ”. Gupta lập luận: “Chiến lược để đối phó với thách thức bởi Trung Quốc phải được xây dựng dựa trên chủ nghĩa hiện thực và khách quan, chứ không phải ý thức hệ tư tưởng và các giá trị”.
Chủ nghĩa hiện thực và khách quan bắt đầu từ thực tế là sức mạnh kinh tế của Trung Quốc và Mỹ, từ đó sức mạnh chính trị và quân sự được xây dựng trên sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau đó còn là nguồn gốc của sự thịnh vượng và an ninh. Không giống như Chiến tranh Lạnh, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ không có lợi ích chung hoặc mục tiêu cuối cùng là tránh sự tự hủy hoại lẫn nhau, Trung Quốc và Hoa Kỳ có mối quan hệ kinh tế rất lớn, vẫn có sự ràng buộc và phát triển cùng nhau và cùng các quốc gia khác trên toàn cầu. Quản lý sự phụ thuộc lẫn nhau đó vẫn là một mối quan tâm chung và quan trọng nhất.
Bản thân sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ không thể ngăn chặn cuộc chiến tranh nhưng lại làm tăng đáng kể chi phí vì xung đột. Chẳng hạn, “hòa bình thương mại” sẽ xây dựng nền tảng cho các mối quan hệ chính trị ở Đông Á giữa Trung Quốc và Nhật Bản, và trên khắp Thái Bình Dương.
Trung Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng toàn cầu cũng chia sẻ lợi ích cốt lõi đối với nền kinh tế khử cacbon nhằm tránh những tác động thảm khốc do biến đổi khí hậu. Các yếu tố liên quan đến khí hậu của Đạo luật Giảm lạm phát mang tính bước ngoặt do Tổng thống Joe Biden ký trong tuần này là một tin đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, đạo luật này gạt Trung Quốc ra khỏi chuỗi cung ứng năng lượng sạch của Hoa Kỳ - điều này sẽ khiến quá trình chuyển đổi năng lượng của Hoa Kỳ trở nên tốn kém và khó khăn hơn nhiều.
Chính trị Hoa Kỳ có dấu hiệu lung lay do bị phân tâm bởi những thách thức lớn trong nước như vi phạm về bất bình đẳng và các thể chế dân chủ đang bị căng thẳng, dẫn đến thất bại trong việc theo đuỗi những lợi ích cốt lõi khác của mình về bảo vệ sự gia tăng quyền lực trong các nguyên tắc mới, như Vương quốc Anh đã làm với Hoa Kỳ tại Bretton Woods. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ - Thái Bình Dương không ràng buộc loại trừ Trung Quốc và phụ thuộc vào lệnh hành pháp từ Nhà Trắng, là một sự thay thế không hiệu quả đối với vai trò lãnh đạo trong việc đưa ra quy tắc đa phương được hỗ trợ bởi sự đồng thuận cao về chính trị ở trong nước.
Các quốc gia còn lại trên thế giới thậm chí còn có lợi ích lớn hơn trong việc đảm bảo các quy tắc đa phương để bảo vệ mình khỏi những ý tưởng bất chợt của Washington và Bắc Kinh, các quốc gia đều sự sẵn sàng tận dụng sức mạnh kinh tế của mình cho các mục đích chính trị.
Nếu Úc hoặc Nhật Bản theo đuổi các hành động “bóp méo thị trường” để đa dạng hóa thương mại và chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc, điều đó sẽ khiến nền kinh tế họ không đạt hiệu quả cao và kém an toàn hơn. Hầu như tất cả các nước láng giềng của Úc và Nhật Bản đều hoạt động tại Trung Quốc và là đối tác kinh tế lớn nhất của họ. Ví dụ, Trung Quốc vẫn muốn chứng tỏ mình trong chiến trường bằng cách tham gia vào cơ quan giải quyết tranh chấp (MPIA) của WTO để thực thi các quy tác thương mại
Cả Úc và Trung Quốc đều có tham vọng đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế của họ khi Bắc Kinh tìm cách đảm bảo nguồn cung quặng sắt dài hạn ở Tây Phi. Gắn kết kinh tế sâu sắc hơn để mang lại thịnh vượng và lợi ích an toàn, mặc dù rủi ro sẽ chiếm ưu thế do sự rạn nứt lòng tin và mất niềm tin vào các quy tắc đa phương.
Trung Quốc cũng đang tìm kiếm chiến lược an ninh kinh tế và chính trị. Sự bất an của Trung Quốc cũng đang tăng cũng do những thách thức trong nước và những nỗ lực kiểm soát đã định hướng của phương Tây. An ninh kinh tế của Trung Quốc trong hệ thống kinh tế đa phương vẫn là một bảo đảm chính cho an ninh kinh tế và chính trị đối với các quốc gia còn lại của thế giới.
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: Trung Quốc, Hoa Kỳ- Trung Quốc, ràng buộc kinh tế






















