JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnChiến sự ở Ukraine và sự suy ngẫm về thuế biên giới carbon của EU

Chiến sự ở Ukraine và sự suy ngẫm về thuế biên giới carbon của EU

ukraine carbon

EU đang tiến gần đến việc thực hiện cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) nhưng đề xuất thực thi lại quá phức tạp và tham vọng. Karsten Neuhoff và Andreas Goldthau viết rằng: Chiến sự ở Ukraine chỉ ra một cách thức tăng cường hợp tác để củng cố tham vọng khí hậu ở các nước thứ ba.

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU (CBAM) đã làm dấy lên nhiều tranh cãi về nhiệm vụ của các cơ quan châu Âu trong hoạch định chính sách khí hậu quốc tế. Chính sách ra đời khi mà công cụ chính sách khí hậu chính của EU- mức giá carbon dựa trên ETS- làm tăng chi phí sản xuất thâm dụng năng lượng tại nước này, cuối cùng làm tăng nguy cơ tạo ra làn sóng chuyển dịch hoạt động sản xuất ra nước ngoài.

Để tránh hiện tượng thất thoát carbon, cho đến nay, các ngành thâm dụng năng lượng đều được miễn thuế. Tuy nhiên, thực tế này đã làm mất đi động lực về đánh thuế carbon để hoạt động sản xuất sạch hơn.

Biện pháp khắc phục: mức thuế carbon tại biên giới tương đương mức giá CO2 của EU sẽ tạo sân chơi công bằng giữa hàng hóa nội địa và nhập khẩu, giúp định hình giá carbon để thúc đẩy chuyển đổi công nghiệp.

Thêm vào đó, CBAM cũng khuyến khích các nước thứ ba áp dụng cơ chế định giá carbon để tránh những bất lợi cho ngành công nghiệp xuất khẩu của họ.

Các nhà quan sát cũng đã chỉ ra các vấn đề liên quan đến các điều khoản phải tương thích theo các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp EU vẫn sẽ gặp bất lợi.

Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu phải đối mặt với một khoản phí bằng với chi phí cắt giảm CO2, và hàng xuất khẩu của châu Âu cũng sẽ không được miễn trừ thuế carbon. Ở thị trường nước ngoài, các nước châu Âu phải cạnh tranh với hàng hóa tương tự được sản xuất với mức chi phí thấp hơn nhiều.

Điều này làm tăng lo ngại cho ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu có nguy cơ tìm cách chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài bất chấp cơ chế biên giới carbon của EU.

Các chi phí hành chính liên quan đến hoạt động giám sát phát thải cấp sản phẩm cũng rất quan trọng. Việc theo dõi cường độ carbon cụ thể dọc theo các chuỗi cung ứng có mức độ phức tạp cao đòi hỏi nhiều nỗ lực kiểm tra có thể không công bằng.

Trước bối cảnh đó, việc điều chỉnh biên giới carbon hiện chỉ dự kiến áp dụng đối với các nguyên liệu và các sản phẩm vật liệu cơ bản như thép, xi măng và phân bón. Hóa chất được xem là sản phẩm tiêu hao nhiều năng lượng, được liệt vào danh sách mặt hàng sản xuất quá phức tạp và do đó bị loại trừ.

Các dòng thương mại toàn cầu có thể chỉ đơn giản là thay đổi theo kiểu: các sản phẩm thân thiện môi trường cuối cùng được gửi đến EU trong khi các sản phẩm ‘kém sạch hơn’ tìm đường đến các nước không áp dụng cơ chế biên giới carbon. Tác động diễn ra đặc biệt mạnh mẽ đối với khí thải gián tiếp (liên quan đến điện) – đây là lý do tại sao nhôm cũng không được CBAM đề cập.

Trước những thách thức này, EU đã chọn áp dụng giai đoạn 10 năm cho thuế biên giới carbon từ năm 2026 trở đi, một nội dung hiện đang được thảo luận giữa các nước EU và Nghị viện châu Âu. Những vấn đề trên làm trì hoãn việc định giá CO2 hiệu quả và quá trình chuyển đổi công nghiệp hoàn toàn.

Quan trọng nhất, tuy nhiên, chiến tranh ở Ukraine khiến CBAM phải cân nhắc lại. Dưới đây là ba lý do:

Thứ nhất, thép, xi măng hoặc phân bón tiêu thụ ở châu Âu chủ yếu đến từ Nga, Ukraine và Thổ Nhĩ Kỳ. Thương mại của EU với Nga hiện đang giảm sút. Trong khi, Thổ Nhĩ Kỳ có thể cần phải bảo vệ các tham vọng địa chính trị của Moscow. Ukraine cần hợp tác, ổn định kinh tế và tái thiết công nghiệp.

Thứ hai, các quốc gia mới nổi đang bị lôi kéo nhằm ủng hộ các lệnh trừng phạt kinh tế chống lại Nga. Việc này khiến các nước tỏ ra dè dặt trước các biện pháp thương mại khi sử dụng cho các mục đích phi thương mại cho dù mục đích đó có liên quan đến các mục tiêu khí hậu hay kế hoạch địa chính trị hay không. Trong khi, các quốc gia giàu vốn hay sử dụng các biện pháp thương mại để bảo vệ ngành công nghiệp nước nhà bất chấp những tổn hại của các quốc gia ở phía Nam Toàn cầu.  

Cuối cùng, việc thiết kế CBAM để buộc Ấn Độ, Brazil, Indonesia hay Nam Phi áp dụng các mô hình định giá carbon nội địa có thể chỉ đơn giản là muốn khẳng định ‘danh tiếng’ ngày càng tăng của thuế ‘chủ nghĩa bảo hộ xanh’ trá hình.

Vì khoảng cách giữa phương Tây, Trung Quốc và Nga ngày càng tăng, châu Âu nên kéo các nền kinh tế mới nổi về phe mình để củng cố sự ủng hộ dành cho chương trình khí hậu đầy tham vọng. Châu Âu phải lựa chọn những quyết sách một cách khôn ngoan.

Cụ thể: để mức thuế carbon hoạt động sẽ cần điều chỉnh lại thuế biên giới carbon và cắt giảm lượng phát thải công nghiệp tại EU. Tuy vậy, Brussels nên từ bỏ ý tưởng thiết kế một CBAM để tăng thuế carbon trên toàn cầu.

Thay vào đó, EU nên để các đối tác thương mại quyết định và chọn ra các công cụ mà khối cho là thích hợp nhất để khử carbon cho nền kinh tế của mình. Để ủng hộ điều này, EU có thể và nên đưa ra những lời đề nghị cụ thể hơn.

Tài chính khí hậu gắn liền với hợp tác song phương vì quan hệ hợp tác hiện đang phát triển với Nam Phi hay Ấn Độ là trung tâm của hoạt động này.

Doanh thu của CBAM có thể được chuyển hướng để giúp các nền kinh tế mới nổi xanh hóa nền công nghiệp của họ. Ở Ukraine, CBAM nên củng cố cho Kế hoạch Marshall xanh và hỗ trợ con đường hướng tới một nền kinh tế có lượng carbon thấp sau chiến tranh.

Một cách khác là điều chỉnh thuế carbon dựa theo thuế tiêu thụ đặc biệt, đây cũng được xem là một trong những công cụ đóng góp dành cho khí hậu. Thay vì đi theo con đường khó khăn là đo lường phát thải CO2 ở nước xuất xứ, công cụ đóng góp của khí hậu sẽ dựa trên các giá trị cường độ phát thải được tiêu chuẩn hóa- áp dụng như nhau cho các vật liệu sản xuất trong nước và nhập khẩu như thép, xi măng hay nhựa.

Bằng cách này, cách tính cũng bao gồm các vật liệu cơ bản như phụ tùng sản phẩm sản xuất. Nghe có vẻ phức tạp, song đây là một thực tế vốn phổ biến đối với các mặt hàng được tiêu thụ đặc biệt khác (ví dụ: rượu, thuốc lá, năng lượng). Mức thuế sẽ được áp dụng khi nguyên liệu xuất khẩu cũng là một phần của sản phẩm sản xuất.

CBAM dựa trên công cụ đóng góp về khí hậu đã đặt ra mục tiêu rõ ràng cho hoạt động sản xuất trung hòa khí hậu. Ngành nguyên vật liệu cơ bản vẫn chịu thuế carbon nhưng sẽ tiếp tục được miễn giảm trong thời gian chuyển đổi sang trung hòa khí hậu.

Tuy nhiên, cơ chế miễn giảm chỉ được cấp phép cho các công ty ban hành các chiến lược đáng tin cậy và mạnh mẽ đối với quá trình khử carbon. Kết quả là: giá CO2 của EU vẫn là yếu tố trọng tâm, hiệu quả trong việc giảm phát thải của EU mà không gây ra nguy cơ thất thoát carbon và ngành công nghiệp được phục hồi từ phí kép.

Sau khi đánh giá tác động, Ủy ban châu Âu đã xem xét một mức thuế tiêu thụ đặc biệt dựa trên CBAM như một phương án thiết kế khả thi. Bây giờ EU nên xem CBAM như một phần của phương thức hợp tác ngoại giao Thỏa thuận Xanh.

EU có thể phát huy vai trò lãnh đạo thông qua sự ủng hộ vững chắc từ chính phủ của các nước thứ ba - có thể là về định giá carbon hoặc những vấn đề khác.

Nguồn: Euractiv

Từ khóa: EU, thuế biên giới carbon (CBAM)

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789882
Go to top