Mexico được dự đoán sẽ hưởng lợi lớn khi các công ty Mỹ di chuyển hoạt động sản xuất về gần nước nhà; tuy vậy, thời cơ có lẽ vẫn chưa đến. Nhiều người cho rằng nguyên nhân là do tổng thống López Obrador
*Chú thích: nearshoring: là quá trình đưa hoạt động sản xuất một phần hoặc toàn bộ chuỗi cung ứng từ nước ngoài về các quốc gia gần với thị trường tiêu thụ.
Mục tiêu ở nước ngoài
Bất chấp tâm trạng bi quan, chính phủ và một số chuyên gia khẳng định Mexico vẫn có thể hưởng lợi từ tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch Covid- 19 gây ra, chi phí vận tải cao hơn và giá nhiên liệu tăng cao do chiến sự Nga- Ukraine đã khiến việc chuyển dây chuyền sản xuất sang Mexico mang tính kinh tế hơn.
Tatiana Clouthier, Bộ trưởng Kinh tế của Mexico cho rằng đất nước đang thu hút vốn đầu tư cho hoạt động nearshoring, “luôn luôn có những trường hợp tốt hơn cho mọi thứ.”
Trong nhiều năm, bà Clouthier cho biết Mexico đã phải hứng chịu “tình trạng mất cân đối, do suy nghĩ về cách tăng cường vốn đầu tư và đóng góp xã hội bị phớt lờ”. Hiện nay, “sáng kiến tạo ra là để cố gắng đền bù cho những thất thoát đó.” Thực tế, sự thay đổi trong chính sách đã khiến các công ty nước ngoài khó chịu. Những doanh nghiệp Mỹ- nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Mexico- được đặc biệt chú ý.
Tháng trước, chính phủ đã buộc Vulcan Materials- một công ty sản xuất cốt liệu lớn nhất của Mỹ, sản phẩm được sử dụng trong xây dựng công trình ở Mỹ- phải ngừng khai thác đá ở bang Đông Nam, Quintana Roo; cụ thể, tổng thống López Obrador cho rằng việc khai thác là một “thảm họa sinh học”. Vulcan đã hoạt động trong khu vực khoảng 30 năm, việc đóng cửa được cho là “tùy tiện và bất hợp pháp” và công ty đã phải tìm trọng tài phán xử theo Thỏa thuận US- Mexico-Canada (thỏa thuận thương mại kế thừa của Nafta).
Tranh chấp đã khiến một nhóm thượng nghị sĩ Mỹ gửi một lá thư vào tháng trước cho tổng thống Joe Biden, kêu gọi tổng thống hành động ngay lập tức để ngăn chặn “hành động gây hấn đối với các công ty Mỹ” của Mexico. Lá thư cho biết: “Nếu những vi phạm này tiếp tục, họ sẽ…kêu gọi các doanh nghiệp chuyển đầu tư sang các thị trường phù hợp và dễ dự đoán”.
Năm 2020, Constellation Brands, một công ty đồ uống lớn của Mỹ sản xuất bia Corona cho thị trường Mỹ, đã phải đóng cửa một nhà máy trị giá 1.4 tỷ đô la đang được xây dựng ở phía bắc thành phố Mexicali sau khi chính phủ Mexico thu hồi giấy phép xây dựng. Sau đó, công ty này đã đồng ý xây dựng một cơ sở ở Veracruz nhưng tới nay vẫn chưa khởi công.
Các công ty từ Tây Ban Nha, cường quốc thuộc địa cũ, cũng bị nhắm đến. Tây Ban Nha là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai của Mexico sau Mỹ. Tổng thống López Obrador phát biểu trong một cuộc họp báo hồi tháng 2: Các công ty Tây Ban Nha đã “lạm dụng đất nước và người dân của chúng tôi”. Khi đề cập đến thập kỷ hậu Nafta, ông cho biết thêm: “Trong giai đoạn tân tự do, các công ty Tây Ban Nha đã được nền chính trị hỗ trợ và đã coi chúng tôi như một vùng đất cần chinh phục.”
Cụ thể là trường hợp của Iberdrola, công ty điện đa quốc gia của Tây Ban Nha sở hữu một chuỗi nhà máy sản xuất điện ở Mexico. Tổng thống đã cáo buộc đó là các giao dịch tham nhũng, trong khi công ty Iberdrola phủ nhận. Công ty Iberdrola đã thông báo kế hoạch đầu tư 5 tỷ đô la vào các dự án năng lượng tái tạo ở Mexico trong nhiệm kỳ của tổng thống López Obrador nhưng hiện đã từ bỏ gần như toàn bộ khoản đầu tư ở Mexico và đang tranh chấp với chính phủ ở tòa án.
Các cuộc công kích công ty Iberdrola là một phần của cuộc vận động lớn của tổng thống López Obrador nhằm khôi phục lại vị trí đáng tự hào trong lĩnh vực năng lượng của Mexico. Các chính phủ tiền nhiệm đã không quan tâm đến tính độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực năng lượng ngược lại cho phép khu vực tư nhân vận hành các nhà máy sản xuất điện phục vụ các khách hàng công nghiệp sau thỏa thuận Nafta.
Cuộc cải cách hiến pháp đáng nhớ vào năm 2013 đã mở cửa các lĩnh vực dầu khí và điện hơn nhưng kể từ khi lên nắm quyền, tổng thống López Obrador đã phản đối những cải cách này và phát động làn sóng sáng kiến để thu hồi chúng. Các cải cách bao gồm luật thay đổi các quy tắc lưới điện của Mexico để ưu tiên cho trạm điện nhà nước sử dụng nhiên liệu hóa thạch nặng, CFE, với mức phí thu về bằng với giá của các công ty tư nhân.
Khi các nhà sản xuất điện nước ngoài kiện chính phủ ở tòa án thì các công ty cần năng lượng phục vụ cho các nhà máy mới ở Mexico cũng đang phải vật lộn để đảm bảo nguồn cung đầy đủ cho sản xuất. Tệ hơn nữa, sự phụ thuộc vào CFE của các nhà máy dầu khí đã thải ra khí CO2 gây khó khăn cho các công ty đa quốc gia cam kết đạt được mục tiêu phát thải carbon ròng bằng không.
Alberto de la Fuente, chủ tịch Hội đồng điều hành các công ty toàn cầu của Mexico, đại diện cho 57 công ty đa quốc gia, chiếm khoảng 40% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã cảnh báo rằng nếu Mexico không thể thực hiện các mục tiêu năng lượng sạch của mình, các công ty “đơn giản sẽ rời đi”.
Đằng sau những cánh cửa đã đóng
Mặc dù các công ty nước ngoài đã phải gánh chịu nặng nề các cuộc tấn công của tổng thống López Obrador, song một số doanh nghiệp lớn của Mexico chiếm phần lớn thị phần nền kinh tế thì ít bị ảnh hưởng hơn.
Khi tổng thống Mexico muốn giải quyết tình trạng lạm phát, chính phủ của ông đã mời các lãnh đạo doanh nghiệp Mexico đến các cuộc trò chuyện riêng để thông qua thỏa thuận phi chính thức giới hạn mức giá tăng đối với các loại hàng hóa thiết yếu. Chủ sở hữu của một nhóm lớn người Mexico cho biết: “Đây không phải là một sự hy sinh lớn”.
Các nhà tài phiệt của Mexico đã củng cố mối quan hệ thân thiết với tổng thống bằng cách đưa ra những tuyên bố ủng hộ công khai và hạn chế bất kỳ chỉ trích ngoài lề nào dành cho ông. Giám đốc điều hành của một công ty lớn nước ngoài cho biết “Tất cả các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mexico đã phàn nàn về Amlo (tên viết tắt của tổng thống Mexico, Andrés Manuel López Obrador). Nhưng khi họ gặp ông, sau đó họ đều nói rằng tổng thống tuyệt vời như thế nào…Đây là vòng lặp thông đồng thường thấy.”
Tổng thống López Obrador cũng gây khó khăn cho các công ty quốc tế ở Mexico theo những cách ít trực tiếp hơn. Ngay khi nhậm chức, ông đã hủy bỏ một sân bay trị giá 13 tỷ đô la ở thành phố Mexico, vốn dĩ sân bay mới này sẽ thay thế cho sân bay Benito Juárez quốc tế đang quá tải nhưng ông cho rằng dự án này được thực hiện một phần là quá xa hoa, mặc dù việc hủy nó cũng tiêu tốn hàng tỷ đô la.
Một doanh nhân Mexico cho biết: “Quyết sách về sân bay 100% mang tính chính trị. Đó là quyết định kinh tế tệ nhất chính phủ Mexico đã đưa ra.”
Thay vào đó, tổng thống López Obrador đã ra lệnh cho quân đội tu sửa một cơ sở không quân gần đó và biến nó trở lại một sân bay bổ sung cho thủ đô. Sân bay quốc tế Felipe Ángeles mới được khai trương vào tháng 3 với chi phí được cựu bộ trưởng tài chính Carlos Urzúa ước tính là 5.7 tỷ đô la. Phần lớn các hãng hàng không đều không muốn sử dụng sân bay Felipe Ángeles vì kết nối đường bộ và đường ray kém (chính phủ vẫn đang nghiên cứu các liên kết giao thông mới). Chuyến bay quốc tế thường xuyên duy nhất là đến Venezuela, một quốc gia đang bị Mỹ trừng phạt. Các chuyến bay đến Cuba, một quốc gia khác cũng đang bị Mỹ cấm vận, dự kiến sẽ bắt đầu vào tháng 7.
Sân bay mới chỉ cách thành phố Benito Juárez 45km, một vùng lân cận đã buộc phải thiết kế lại không phận của thành phố Mexico hiện đang gây tranh cãi. Điều này khiến Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế gọi là sự gia tăng “rất đáng lo ngại” đáng báo động về các chuyến bay có nguy cơ va chạm. Các hãng hàng không hiện không thể mở rộng chuyến bay đến Mỹ bởi vì Cục Hàng Không Liên bang hạ cấp xếp hạng an toàn bay của Mexico vào năm ngoái.
Giám đốc điều hành của một công ty nước ngoài cho biết: “Chúng ta đang đánh mất tiềm năng chúng tôi có với tư cách là một quốc gia và một thành phố” bởi vì tình hình sân bay. “Có thể sẽ đến một lúc bạn phải bay đến thành phố Monterrey để đáp máy bay đến thành phố Barcelona.”
Mặc dù vậy, Omar Troncoso, một chuyên gia về nearshoring tại Tập đoàn tư vấn Kearney ở Mexico, nhận thấy vẫn có một số lý do để lạc quan trước những thay đổi địa chính trị thời gian gần đây. Ông cho rằng hiện nay cũng như thời điểm năm ngoái, “Chi phí ở Mexico vẫn cao hơn nhiều so với các nước có chi phí thấp như ở châu Á” thể hiện qua tổng chi phí được tính vào giá thành sản phẩm cuối cùng người tiêu dùng mua. Tuy vậy, “chúng tôi gặp phải tình trạng gián đoạn nghiêm trọng trong chuỗi cung ứng và giá của một container được đưa từ Trung Quốc sang Mỹ đã tăng vọt. Giờ đây giá cả sản xuất ở Mexico lại trở nên rẻ hơn.”
Ông Troncoso tin rằng nearshoring nhắm đến hoạt động cung cấp sản phẩm cho thị trường Mỹ, sẽ phải mất hai đến ba năm nữa mới thể hiện rõ qua số liệu. “Nếu bạn… tìm kiếm một không gian tại một số thành phố biên giới, các công ty bất động sản sẽ nói với bạn rằng bạn sẽ phải chờ cho tới năm 2025- tuy nhiên tới lúc đó, mọi thứ đã được bán hết.”
Sergio Argüelles González, người đứng đầu hiệp hội các khu công nghiệp của Mexico cho biết năm 2021 là một năm bội thu với “nhu cầu ngoạn mục” và dự đoán tình trạng này sẽ tiếp tục nếu có đủ nguồn cung cấp điện.”
Revilla của Citi cho biết “Bất chấp những quyết sách của tổng thống Amlo, có điều gì đó đang xảy ra. [Động lực] cho nearshoring là rất lớn và hy vọng sẽ tồn tại lâu hơn thời kỳ cầm quyền của tổng thống Amlo đồng thời có thể giúp Mexico vượt qua giai đoạn trung hạn.” De la Calle, một nhà cố vấn cũng đồng quan điểm: “Nearshoring đang diễn ra. Nếu chúng ta làm mọi thứ đúng cách, nearshoring có thể làm tăng GDP gấp ba lần so với hiện tại. Chi phí cơ hội của tổng thống López Obrador là rất lớn.”
Nguồn: FT
Từ khóa: Mexico, chiến tranh Mỹ- Trung, nearshoring






















