
Khu vực Đông Nam Á cần sự hỗ trợ của quốc tế để phục hồi nền kinh tế hậu Covid-19. Nhưng sự trợ giúp không nên đi kèm với các điều kiện.
Covid-19 tác động sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là đối với các quốc gia kém phát triển hơn đã bắt đầu xảy ra các cuộc khủng hoảng. Đây là trường hợp của phần lớn Đông Nam Á, nơi quá trình phục hồi tỏ ra chậm chạp. Hầu hết các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang tìm ra những thách thức cần giải quyết - và hầu hết các vấn đề đều liên quan tới tăng trưởng kinh tế.
Đại dịch Covid-19 khiến nền kinh tế toàn cầu trở nên mong manh. Đối với các quốc gia ASEAN, căng thẳng kinh tế ngày càng gia tăng khi khu vực này trở thành địa điểm cho sự cạnh tranh quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là các quốc gia Đông Nam Á phải đặc biệt thận trọng khi thực hiện các giao dịch với một trong hai cường quốc này trong quá trình phục hồi kinh tế. Các quốc gia Đông Nam Á vẫn nên ưu tiên duy trì các vấn đề an ninh khu vực do đại dịch gây ra; xem xét kỹ những lời hứa về viện trợ hào phóng.
Triển vọng kinh tế khu vực do Ngân hàng Phát triển Châu Á đưa ra rằng tăng trưởng ở ASEAN sẽ phục hồi từ 4,0 lên 5,2% vào năm 2022, với thương mại là động lực chính. Tăng trưởng được tạo tiền đề dựa trên vấn đề mở rộng hội nhập, ra mắt Khung phục hồi tổng thể ASEAN và kế hoạch thực hiện. ASEAN đã đồng ý tận dụng Hiệp định RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực) như một công cụ để thiết lập sự gắn kết hơn với các thị trường quốc tế. Điều không ngờ là đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy mục tiêu lâu dài của ASEAN về hội nhập khu vực - nó cũng thúc đẩy một chương trình nghị sự chung về sức khỏe và an ninh con người, đồng thời thúc đẩy hợp tác chung.
Các quốc gia ASEAN không thể tự mình ứng phó với đại dịch.Viện trợ nước ngoài là điều rất quan trọng, đặc biệt là vấn đề tăng tỷ lệ tiêm chủng trong trạng thái “bình thường mới”. Hỗ trợ quốc tế cũng sẽ là yếu tố đóng góp lớn nhất vào sự phục hồi của các nền kinh tế ASEAN.Nhu cầu viện trợ nước ngoài này cho phép Chính phủ các nước tìm cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình. ASEAN sẽ vẫn là một trung tâm chiến lược về mặt địa lý và là một trung tâm về sản xuất và thương mại. Nếu ASEAN trở thành đối tác kinh tế sẽ là một giải pháp cho Washington hoặc Bắc Kinh.
Kinh nghiệm của chiến lược “ngoại giao vắc-xin” cho thấy cơ hội khi Mỹ và Trung Quốc từng tìm cách hỗ trợ các quốc gia ASEAN hàng triệu liều vắc xin Covid-19 và đồng thời tìm cách thể hiện mức độ ảnh hưởng. Lợi ích ngắn hạn đối với ASEAN là hỗ trợ tốc độ phục hồi - về sức khỏe của người dân và nền kinh tế - và do đó, sự hỗ trợ trên đã được hoan nghênh.
Tuy nhiên, đồng thời một số chính phủ Đông Nam Á vẫn thận trọng trước bất kỳ kỳ vọng nào từ các cường quốc, rằng việc cung cấp các sự hỗ trợ sẽ đổi lấy những cam kết. Điều này phù hợp với lịch sử của ASEAN bao gồm các thuộc địa trước đây mong muốn tạo ra một “không gian an toàn” cho khu vực.
Để duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực, đặc biệt là vì Hiệp định RCEP có sự tham gia của Trung Quốc trong khi Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng do Mỹ đề xuất sẽ hỗ trợ rộng rãi cho sự tăng trưởng kinh tế của các thành viên ASEANtrong quá trình phục hồi sau các tác động của Covid-19, các quốc gia Đông Nam Á vẫn nên duy trì ranh giới của mình với sự cạnh tranh của hai cường quốc trên. Vì an ninh kinh tế là lợi ích chính của ASEAN, hợp tác sâu hơn và hội nhập khu vực giữa các quốc gia thành viên ASEAN nên là nội dung thảo luận chính.Điều mà các quốc gia ASEAN cần nhất từ các cường quốc trên, được thể hiện qua các đợt dịch bùng phát vào năm 2021 đe dọa sự phục hồi kinh tế khu vực là sự hỗ trợ đối với tình trạng thiếu hụt hàng hóa công cộng như vắc xin và thiết bị y tế như bình ôxy.Cần đề phòng sự cạnh tranh và những nỗ lực để lôi kéo một “sự lựa chọn”.
Nguồn: The Interpreter
Từ khóa: ASEAN; Mỹ; Trung Quốc; Đông Nam Á; phục hồi; kinh tế; Covid-19; cạnh tranh.






















