JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnToàn cầu hóa và sự hồi phục

Toàn cầu hóa và sự hồi phục

26eed608ef824461bd49d396db588fffCác chuyên gia kinh tế đã tính toán sai về sự đứt gãy do khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như đại dịch COVID-19, do vậy họ cần xây dựng một mô hình mới phù hợp hơn

Vậy có phải toàn cầu hóa đang thúc đẩy sự hồi phục hay thực chất mô hình này không có bất kỳ tác động nào hoặc đang tạo ra nhưng hệ quả không mong muốn?

Có thể nói nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra những nhận định sai lầm đối với hai cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trong thế kỷ này – biến động tài chính toàn cầu năm 2008 và đại dịch COVID-19 bắt đầu vào năm 2020. Đối với cuộc khủng hoảng tài chính, hầu hết chuyên gia đã đánh giá thấp những rủi ro do cuộc khủng hoảng này gây ra. Tuy nhiên, họ lại phóng đại những tác động đại dịch COVID-19 tới sự thiếu kết nối của mạng lưới sản xuất cũng như toàn cầu hóa về thương mại.

Trong bối cảnh cuộc xâm lược của Nga tại Ukraine cùng hàng loạt biện pháp trừng phạt theo sau đang có nguy cơ kích hoạt một cuộc khủng hoảng thứ ba, điều cần thiết chính là tìm hiểu về những sai lầm trong các phân tích kinh tế cũng như những thay đối mà các nhà kinh tế cần áp dụng để khắc phục sai lầm đã nêu. Các dự đoán sai lầm về khủng hoảng tài chính cùng đại dịch đã phản ánh sự thiếu thông tin của thị trường tài chính và thương mại. Nguyên nhân là bởi, hầu hết chuyên gia đều phụ thuộc quá nhiều vào các mô hình kinh tế với thiếu sót.

Trước khi khủng hoảng tài chính bùng nổ, nhiều chuyên gia kinh tế có cái nhìn khá lạc quan về tác động của toàn cầu hóa tài chính đối với sự phục hồi kinh tế thế giới. Quan điểm chủ đạo chính là sự phát triển của hệ thống tài chính quốc tế có thể giúp các thể chế và nền kinh tế phân tán rủi ro thông qua những công cụ. Các sản phẩm tài chính mới sẽ giúp lấp những lỗ hổng tại thị trường. Bên cạnh đó, sự kết nối tài chính xuyên biên giới sẽ dẫn đến phân tán rủi ro ở cấp độ cao hơn.

Đã có nhiều nghi ngại và thái độ thận trọng đối với vấn đề đã nêu. Năm 2005, cựu Kinh tế trưởng của IMF Raghuram Rajan cảnh báo “mặc dù ngày càng nhiều bên có khả năng gánh chịu rủi ro, nguy cơ trong lĩnh vực tài chính đối với hệ thống đang ngày càng cõ ràng. Điều này làm tăng khả năng tạo ra sự sụp độ khủng khiếp”.

Quá phụ thuộc vào khả năng tự điều chỉnh của các thị trường tài chính

Có thể nói, cuộc khủng hoảng liên quan đến các khoản thế chấp dưới chuẩn tại Mỹ đã lan ra toàn cầu do sự kết nối thị trường dựa trên sự đảm bảo của nền kinh tế lớn nhất thế giới. Hai năm sau ngày rời nhiệm sở, cựu chủ tịch Quỹ dự trữ liên bang Hoa Kỳ Alan Greenspan, trong buổi điều trần trước Quốc hội vào ngày 23/20/2008 đã phải thừa nhận rằng ông đã sai về hệ thống quy định quản lý hoạt động tài chính. “Ông Greenspan, với vẻ nhún nhường đã thừa nhận sai lầm trong việc đặt quá nhiều niềm tin vào khả năng tự điều chỉnh của các thị trường tự do cũng như không thể dự báo được sự đổ vỡ của cơ chế cho vay dưới chuẩn” – Tờ New York Times đưa tin.

Rộng hơn, hàng loạt nghiên cứu đã và đang tập trung làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự mỏng manh của hệ thống tài chính toàn cầu cũng như cuộc khủng hoảng tiền tệ thế giới. Theo đó, những nhân tố chính đã được nhiều chuyên gia kinh tế chỉ ra đó là thiếu hiểu biết về hệ thống tiền tệ, mất cân bằng toàn cầu, quy định tài chính lỏng lẻo dẫn đến hàng loạt khoản vay rủi ro cao, lỗ hổng trong hệ thống pháp lý gắn với yếu tố chính trị-kinh tế.

Cuộc khủng hoảng với quy mô ước tính ban đầu khoảng 200 tỷ USD đã giáng đòn khủng khiếp lên hệ thống tài chính thế giới, thổi bay hàng nghìn tỷ USD, gây ra khủng hoảng thất nghiệp cùng hàng loạt hệ lụy xã hội trên khắp toàn cầu, cũng như khởi đầu giai đoạn khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái.

Thổi phồng quá mức hệ lụy của đại dịch

Điều gì đã xảy ra trong giai đoạn dịch COVID-19 bùng phát? Vào thời điểm ban đầu của đại dịch, hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu dường như rất dễ tổn thương. Trong nhiều thập niên, hai hệ thống đã nêu phụ thuộc chủ yếu vào chuỗi giá trị toàn cầu với khung thời gian chính xác. Theo đó, những nguyên liệu và linh kiện quan trọng được sản xuất tại nhiều quốc gia và khu vực khác nhau dựa trên lợi thế so sánh. Một mặt, các chuỗi sản xuất và giá trị toàn cầu giúp nâng cao năng suất trên quy mô toàn cầu, mặt khác, cấu trúc này mang đến những rủi ro mới. Cụ thể là một cấu phần thiếu sót có thể gây đình trệ cả hệ thống sản xuất. Nhằm làm rõ hơn khái niệm “cấu phần trọng yếu”, các nhà kinh tế đã sử dụng mô hình đánh giá về tính linh hoạt trong việc sử dụng những nguyên liệu thay thế trong quá trình chế tạo sản phẩm.

Quan điểm nêu trên được củng cố bởi hàng loạt ví dụ về đứt gãy chuỗi do thiên tai ví dụ như cơn bão Katrina kéo theo lũ lụt tại New Orleans năm 2005 và trận động đất kinh khoàng tại Nhật vào năm 2011. Một nhiên cứu về trường hợp của xứ phù tang cho thấy “ngay cả khi vấn đề chỉ xảy ra tại quy mô doanh nghiệp, cú sốc tiềm tàng đối với hệ thống sản xuất có thể cảm nhận được ở cấp độ cộng đồng doanh nghiệp, từ đó gây ra biến động lớn về kinh tế”. Các nhà nghiên cứu khác cũng cho rằng mô thức nêu trên cũng có thể áp dụng đối với những khủng hoảng xuyên biên giới.

Trong bối cảnh dịch COVID-19, nhiều dự báo cho rằng, nếu đại dịch tác động đến một quốc gia sản xuất trọng điểm hoặc khu vực hoặc chỉ ở cấp độ một nhà máy – sự sụp đổ của toàn bộ chuỗi sản xuất có thể xảy ra. Với thực tế, đại dịch lan tràn toàn cầu, hoạt động thương mại trở nên rất dễ tổn thương. Quan điểm nêu trên không chỉ phổ biến trong giới học giả. Nhấn mạnh đến đứt gãy hoạt động cung ứng, Tổ chức Thương mại thế giới cũng hàng loạt các tổ chức khác cũng cảnh báo rằng dịch bệnh có thể dẫn đến sự sụp đổ trong giao thương. Các hãng tin lớn đều nhận định đứt gãy giao thương đang diễn ra, ví dụ, trong một bài viết vào tháng 8/2002, tờ Wall Street Journal đã giật tít “Khủng hoảng Covid gây ra sụt giảm lịch sử cho thương mại toàn cầu”. Trên nền những dự báo đã nêu, nhiều chuyên gia lo sợ đại dịch có thể tàn phá nền kinh tế thế giới. Ví dụ, trong dự án “Viễn cảnh kinh tế thế giới” của IMF, tổ chức này dự báo COVID-19 sẽ gây ra suy giảm lớn trong hoạt động giao thương xuyên biên giới.

Tuy nhiên, những gì diễn ra thật sự khác biệt. Biểu 1 cho thấy sự tăng trưởng của hoạt động thương mại hàng hóa tính theo giá trị. Nhập khẩu hàng hóa trên thế giới được coi là một thước đo đối với toàn cầu hóa thương mại. Điểm nổi bật của thước đo này chính là sự sẵn có của số liệu đánh giá.

Biểu 1 cũng cho thấy hai vấn đề quan trọng. Đầu tiên, vào thời điểm bắt đầu đại dịch vào tháng 4/2020, IMF đã dự báo về sự đổ vỡ của hoạt động thương mại thế giới. Dự báo đã trở thành sự thật nhưng không quá nghiêm trọng như những gì đã mường tượng. Thứ hai, sự phục hồi về giao thương diễn ra mạnh mẽ hơn so với sự đoán; vào qúy 3/2020, hoạt động thương mại đã vượt mức trước đại dịch. Ấn phẩm mới của IMF vào tháng 10/2021 và tháng 01/2022 đều nhận định đà phục hồi vẫn sẽ tiếp diễn. Như vậy, các dự báo dựa trên lý thuyết về chuỗi cung ứng hầu hết chỉ mang tính ngắn hạn.

Mô hình nêu trên không chỉ đơn thuần là sự phản ánh những giả định về GDP toàn cầu. Biểu 2 cho thấy một số kết quả thành phần trong chỉ số GDP từ thời điểm tháng 4/2020 không mấy khả quan. Tuy nhiên, số liệu cũng chỉ ra, thương mại đã tăng trưởng ngoạn mục vượt mốc trước đại dịch vào quý 3/2020. Bức tranh tổng thể không có nhiều thay đổi ngay cả khi đưa dầu – loại hàng hóa với mức tăng phi mã trong thời gian qua khỏi các công thức tính toán. Bên cạnh đó, số liệu cũng không thay đổi đáng kể khi sử dụng khối lượng thay vì giá trị giao dịch thương mại làm công thức tính toán.

Giao thương phục hồi nhanh chóng ngay tại những vùng đại dịch tác động mạnh mẽ nhất. Điều này hoàn toàn đúng với Á châu – châu lục sở hữu những chuỗi giá trị phức tạp của thế giới. Biểu 3 cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của thương mại hàng hóa toàn cầu tại cả những nền kinh tế đã và đang phát triển.

Khi dự báo sai lầm

Dự đoán cho rằng hệ thống sản xuất mở rộng cùng toàn cầu hóa giao thương sẽ khiến nền kinh tế kém bền vững hơn đã được chứng minh là sai. Vậy lý do là gì? Câu hỏi đã nêu có hai thành phần: (1) Tại sao nhu cầu đối với hàng hóa tăng? (2) Chuỗi cung ứng đã làm gì để đáp ứng nhu cầu gia tăng với tốc độ chóng mặt?

Liên quan đến câu hỏi thứ 1, chính các gói kích thích tài chính do chính phủ các nước tung ra đã thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, đẩy mạnh nhu cầu đối với hàng nhập khẩu. Đại dịch đã giúp chuyển dịch mô hình tiêu thụ từ dịch vụ như du lịch, vận chuyển và giải trí sang những loại sản phẩm gắn liền với hoạt động giao thương và chuỗi giá trị truyền thống như hàng điện tử cũng như hàng loạt hàng hóa hữu hình khác. Tác động kép từ đại dịch hoàn toàn khác với những gì đã diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính khi sự bất định phủ bóng dòng đầu tư đổ vào sản xuất phục vụ thương mại.

Về câu hỏi liên quan đến khả năng chuỗi cũng ứng tạo ra sự hồi phục nhanh chóng đối với hoạt động thương mại toàn cầu, lý do cho khả năng này chính là sức mạnh tiềm ẩn của các chuỗi giá trị. Tham gia vào chuỗi giá trị quy mô toàn thế giới có thể khiến các nhà xuất khẩu dễ gặp rủi ro trước các cú sốc bên ngoài, tuy nhiên, lại giúp họ đứng vũng hơn trước những biến động trong nước. Trong thời gian đại dịch COVID-19 bùng phát, viễn cảnh như đã nêu xuất hiện khá rõ ràng. Vì bất cứ lý do gì, có thể nói, sự sụp độ của hoạt động giao thương chỉ mang tính thời điểm và thương mại đã hồi phục về về mức trước đại dịch, cũng như theo kịp đà tăng của nhu cầu tiêu dùng toàn cầu. Các chuyên gia gọi đay là “sự bền vững của thương mại toàn cầu”

Thông tin về thiếu hụt hàng hóa diện rộng cũng như tắc nghẽn chuỗi cung ứng là khá phổ biến. Đây là viễn cảnh đã được dự báo trong bối cảnh hoạt động giao thương gia tăng. Khi thương mại toàn cầu dự kiến tăng gần 25% so với con số tính toán trước đây sau thời điểm đại dịch bùng phát, sự thiếu hụt hàng hóa sẽ là một vấn đề không thể tránh khỏi. Trong báo cáo tháng 10/2021, IMF cũng nhận định rằng chi phí vận chuyển tăng trong giai đoạn đầu của quá trình hồi phục sau dịch bệnh có nguyên do từ nhu cầu hàng hóa biến động mạnh. Điều này không đồng nghĩa với việc đứt gãy chuỗi cũng ứng không tác động hoặc đã hoàn toàn phục hồi. Vấn đề cần nhìn nhận chính là cung ứng phải tương đồng với nhu cầu và dẫn đến những kết quả ngoài dự báo. Thiếu hụt cung ứng ở mức độ không nghiêm trọng có thể khiến thương mại hồi phục mạnh mẽ hơn.

Bài học cho các chuyên gia kinh tế

Bài học nào các nhà kinh tế học có thể rút ra từ những vấn đề đã nêu?

Những đánh giá sai lầm về cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và sự bùng phát đại dịch, phần nào cho thấy sự hiểu biết chưa đầy đủ về cấu trúc vi mô của thị trường tài chính, thương mại. Liên quan đến thị trường tài chính, hầu hết giới chuyên gia kinh tế bị ám ảnh bởi lý thuyết phân tán rủi ro do sự phát triển của các thị trường khiếm khuyết. Nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz trong một nhận định của mình cho rằng chính niềm tin về sự hiệu quả tự thân của thị trường đã khiến Cục dự trữ liên bang Mỹ bỏ qua những chỉ dấu rõ ràng về bong bóng tài chính. Ở khía cạnh thương mại, các nhà kinh tế học lại bị chi phối bởi logic về lợi thế cạnh tranh, lý thuyết về hiệu quả kinh tế và hệ thống sản xuất. Ngoài ra, khi xuất hiện những vấn đề như đã nêu, chính việc các nhà kinh tế đặt niềm tin quá lớn vào các mô hình sẵn có đã khiến họ lầm lạc.

Những gì đã được mô hình hóa cũng chiến lược đơn giản hóa vấn đề đã trở thành cơ sở cho việc phân tích tác động của toàn cầu hóa lên sự bền vững của nền kinh tế. Bên cạnh đó, mặc dù những kiếm khuyết về thương mại và tài chính diễn tiến theo những hướng khác nhau, chúng lại có cùng một nguyên nhân. Những mô hình kinh tế là bản mô tả đơn giản hóa về thế giới thực. Do đó, mặc dù các mô hình có thể giúp con người hiểu biết nhiều hơn về cách nền kinh tế vận hành, nhưng chúng lại dựa trên những chỉ dấu rủi ro hoặc thiếu cơ chế đánh giá đầy đủ rủi ro để thiết lập phản ứng chính sách kịp thời.

Trên bình diện tương lai, các câu hỏi đặt ra là liệu các nghiên cứu có thể tiếp tục dẫn dắt hoặc thúc đẩy việc tạo dựng một cách nhìn đúng đắn về các mô hình kinh tế? Trong bài phát biểu năm 2021, ông Pierre-Olivier Gourinchas, trưởng phòng nghiên cứu – cố vấn kinh tế của IMF đã thảo thuận luận về những thay đổi hậu khủng hoảng tài chính và mối liên quan của chúng đối với kiến thức liên quan đến cấu trúc vi mô của thị trường tài chính. Ông Gourinchas cho rằng khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã nhắc nhở thế giới về tầm quan trọng của rạn nứt và liên kết tài chính cũng như những đề xuất trong các nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề này.

Vẫn còn quá sớm để đi đến bất kỳ kết luận nào về tác động kinh tế của đại dịch COVID-19, tuy nhiên “vấn đề quá rõ ràng chính là tầm quan trọng của liên kết và đứt gãy hoạt động sản xuất gắn với từng ngành trên bình diện quốc tế” – một diễn giả tại Hội nghị nghiên cứu thường niên của IMF kết luận vào năm 2021. Nhà khoa học đoạt giải Nobel Michael Spence cũng nhấn mạnh “thế giới cần những mô hình kinh tế hoàn thiện hơn nhằm dự đoán về sự phát triển của các chuỗi cung ứng cũng như sức chống chịu của chúng trước những biến động”. Ngoài ra, bên cạnh thảm họa về nhận đạo, cuộc chiến hiện nay tại Ukraine là lời nhắc nhở cho toàn thế giới về tầm quan trọng của kết nối thương mại, tài chính trong một nền kinh tế kết nối toàn cầu. Các nghiên cứu trong tương lai, do vậy, cần tập trung vào mối liên kết đã nêu trong bối cảnh những tác động lâu dài của chúng đối với nền kinh tế toàn cầu.

Nguồn: IMF

Từ khóa: thương mại, kết nối, bền vững, mô hình

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008791226
Go to top