Trong chuyến thăm chính thức đến Nhật Bản vào cuối tháng 5, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden dự kiến sẽ chính thức khởi động Khung kinh tế Ấn Độ-Thái Bình Dương – trọng tâm trong chính sách kinh tế hiện tại của Nhà Trắng tại khu vực. Được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào tháng 10/2021, Khung kinh tế là nỗ lực đầu tiên của chính quyền Mỹ nhằm tạo ra một chiến lược đa phương, bao trùm đặt trọng tâm vào Á châu sau thời điểm cựu Tổng thống Donald Trump rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào năm 2017.
Mặc dù nội dung chi tiết của Khung chính sách nêu trên chưa được công bố, tuy nhiên, theo lời của các quan chức trong chính quyền Mỹ, IPEF sẽ có 4 trụ cột gồm: (1) thương mại công bẳng và bền vững; (2) chuỗi cung ứng bền vững; (3) hạ tầng, năng lượng sạch và phi các-bon hóa; (4) thuế và chống tham nhũng. Tuy vậy, chính quyền Biden nhấn mạnh Khung chính sách sẽ không phải là một “thỏa thuận thương mại”. Nói cách khác, IPEF sẽ không quy định về cắt giảm thuế quan hoặc yêu cầu về tiếp cận thị trường – những nội dung trọng tâm của các thỏa thuận thương mại mà Hoa Kỳ tham gia. Với các hiệp định giao thương đã ký trước đây như TPP, Washington đã dùng chính thị trường rộng lớn của Hoa Kỳ như một mồi nhử nhằm khuyến khích hàng loạt đối tác thương mại chấp nhận từ bỏ lợi ích kinh tế trước mắt nhằm theo đuổi các nguyên tắc chung do xứ cờ hoa đặt ra. Không quy định về mở cửa thị trường hoặc cắt giảm thuế quan, IPEF sẽ đứng trước nguy cơ bị quay lưng bởi nhiều quốc gia trong khu vực, đặt biệt là những nền kinh tế mới nổi, luôn đặt trọng tâm chính sách nhằm đạt được các lợi ích thực chất.
Nguy cơ nêu trên là khá hiển hiện nếu Hoa Kỳ muốn kết nối mạnh hơn với những quốc gia ngoài nhóm nước đồng minh của mình như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, và Singapore –các thực thể đã gắn kết mạnh mẽ với Mỹ về hệ thống các quy định, tiêu chuẩn và quy chuẩn – những yếu tố mà IPEF đặt trọng tâm. Việc mời những quốc gia khác trong vùng, đặc biệt là các nước thuộc Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) – một liên minh chính trị, kinh tế của 10 nền kinh tế khu vực được coi là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm thiết lập một cấu trúc kinh tế các tác động đến toàn vùng. Về lâu dài, để những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Indonesia và Thái Lan nhận ra giá trị từ việc tham gia IPEF, xứ cờ hoa cần giới thiệu và đảm bảo những lợi ích do IPEF mang lại tương đồng với ưu tiên phát triển của các quốc gia nêu trên. Một khảo sát mới tại các nền kinh tế đang phát triển cho thấy tạo thuận lợi thương mại là một nội dung nhận được sự quan tâm đặc biệt của các bên liên quan trong IPEF. Do vậy, Hoa Kỳ nên chú trọng xây dựng hệ thống quy định về tạo thuận lợi thương tại trụ cột về thương mại công bằng, bền vững trong cấu trúc đã nêu. Nếu Mỹ có thể có thể thúc đẩy thành công sự hợp tác hướng tới thuận lợi hóa thương mại như một phần nội dung của IPEF, nước này sẽ có cơ hội kết nạp thêm những nền kinh tế khác trong khu vực.
Tạo thuận lợi thương mại
Tạo thuận lợi giao thương tập trung giải quyết những hàng rào thủ tục hành chính đang kìm hãm thương mại. Trên thực tế, thuận lợi hóa thương mại đồng nghĩa với việc cải thiện tính hiệu lực của hệ thống quy định hiện hữu, triển khai những công nghệ mới có liên quan đến vấn đề giao thương (ví dụ công nghệ về Một cửa quốc gia) cũng như giải quyết các thách thức liên quan đến thể chế thương mại. Thuận lợi hóa thương mại tập trung giải quyết những thách thức về quản lý hoạt động giao thương, giảm chi phí tuân thủ trong mối liên hệ giữa doanh nghiệp với chính phủ. Lợi ích thu được từ cơ chế tạo thuận lợi thương mại hiệu quả ví dụ như Hiệp định thuận lợi hóa giao thương WTO (TFA) năm 2017 tương đương với việc cắt giảm thuế quan. Tiêu biểu như việc thực thi toàn diện TFA được dự báo sẽ giúp giảm chi phí giao thương đến 14.3% cho cộng đồng doanh nghiệp
Tạo thuận lợi hóa thương mại cũng là một ưu tiên chính sách tại khu vực. Trong hơn 2 thập niên qua, thuận lợi hóa giao thương được là trọng tâm của ASEAN. Đây tiếp tục là một nội dung được đề cập trong Kế hoạch của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) với mục tiêu cụ thể hướng đến 2025. Kế hoạch nêu rõ, đến năm 2025, mục tiêu liên quan đến thuận lợi hóa thương mại của ASEAN sẽ là “thiết lập một cơ chế thuận lợi thương mại đồng bộ giữa các nước thành viên, hướng gần hơn đến tiêu chuẩn toàn cầu”. Để giúp các quốc gia ASEAN đạt được mục tiêu đã nêu, Hoa Kỳ cần tập trung cải thiện tính hiệu lực và minh bạch của hoạt động hải quan tại khu vực. Bên cạnh việc ban hành chính sách nhằm tăng cường tính kết nối và thương mại giữa Mỹ với 10 nước Đông Nam Á, xứ cờ hoa cũng cần cung cấp những hỗ trợ nhằm đạt được mục tiêu tạo ảnh hưởng chính trị cũng như tác động đến các lĩnh vực trọng yếu trên phạm vi toàn vùng. Cụ thể, Mỹ có thể cân nhắc tập trung hoàn thiện chương trình Thương nhân tin cậy cũng như tăng cường trợ giúp kỹ thuật cho chương chính Một cửa quốc gia tại từng nước.
Chương trình thương nhân tin cậy
Hoa Kỳ có thể bổ sung chương trình Thương nhân in cây/Trao quyền vận hành (AEO) trong IPEF. AEO được thiết lập nhằm xác định những thương nhân được coi là đang tin cậy trong hệ thống dữ liệu hải quan tại từng quốc gia. Chương trình này giúp xác thực những thương nhân đang vận hành chuỗi cung ứng với độ tin cậy cao, qua đó, đơn giản hóa quy trình kiểm tra hải quan đối với họ. Mặc dù một số nền kinh tế lớn tại Đông Nam Á đã vận hành một số dạng thức của AEO, nhưng hầu hết những chương trình này vẫn còn hạn chế về tính năng cũng như khó đáp ứng tốt với những biến chuyển trong môi trường giao thương ví dụ như sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử. Do vậy, Hoa Kỳ có thể mở rộng chương trình AEO nhằm tích hợp thêm những chủ thể tham gia vào nền kinh tế số.
Mỹ cũng cần ưu tiên mở rộng Cơ chế công nhận lẫn nhau AEO (MRA) giúp đồng bộ hóa tất cả chương trình AEO trên toàn vùng, theo đó, một thương nhân đủ tiêu chuẩn theo AEO tại một quốc gia có thể tiếp cận những lợi ích tương tự tại một quốc gia khác trong khu vực. Hoa Kỳ hiện đang có những thỏa thuận về hải quan với Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, tuy vậy sự chú ý hiện nay nên dành cho các quốc gia khác tại Đông Nam Á bao gồm Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Philippin. Mặc dù xứ cờ hoa đã có kinh nghiệm trong đàm phán những MRA cấp song phương, việc tạo lập một MRA đa phương với các đối tác tại Thái Bình Dương sẽ là một hình mẫu ở cấp độ toàn cầu cho những thỏa thuận cùng loại được thiết lập trong tương lai. MRA tại khu vực cũng giúp tăng cường hơn tính kết nối giữa Hoa Kỳ với toàn vùng, đồng thời tạo ra tác động mạnh mẽ đến cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Khác với những công ty lớn có khả năng thiết lập văn phòng đại diện tại nhiều thị trường xuất khẩu, SMEs không có nguồn lực để thích ứng với AEO tại từng thị trường. Vì vậy, với MRA đa phương, họ có thể hưởng lợi ích từ AEO một cách toàn diện tương như như các doanh nghiệp lớn.
Việc xây dựng MRA ở cấp độ khu vực cần thiết phải thực hiện song song với quá trình nâng cao năng lực cho cơ quan hải quan tại từng nền kinh tế trong khu vực. Với Hoa Kỳ, tiêu chí đầu tiên để thiết lập một MRA chính là quốc gia đối tác phải đáp những đòi hỏi của phía Mỹ về vấn đề an ninh. Do vậy, xứ cờ hoa cần chú trọng hỗ trợ đào tạo, trao đổi kinh nghiệm cũng như chuyển giao những công nghệ mới nhằm đảm bảo tất cả đối tác giao thương đáp ứng đầy đủ những tiêu chí do Mỹ đặt ra.
Chính sách một cửa (NSW)
Một lĩnh vực quan trọng khác mà Hoa Kỳ cũng cần chú trọng trong tiến trình soạn thảo và thực thi IPEF chính là hỗ trợ quá trình vận hành và nâng cấp Hệ thống một cửa (NSW) tại Đông Nam Á. NSW là một cơ chế tạo thuận lợi thương mại cho phép các thương nhân quốc tế hoàn thành các bảng biểu thông tin theo mẫu thống nhất qua đó đáp ứng những thủ tục cần thiết cho việc xuất nhập khẩu thương mại. NSWs là một bước đột phá về mặt hành chính. Trước khi cơ chế đã nêu được triển khai, cộng đồng thương nhân thường phải làm việc với nhiều cơ quan chính quyền nhằm đảm bảo hoạt động thương mại xuyên biên giới của mình được thông suốt; bên cạnh đó, mỗi cấp chính quyền lại thường có những yêu cầu trùng lặp khiến quá trình này lại càng thêm rắc rối và tốn thời gian. Vì vậy, việc triển khai thành công NSW sẽ có tác động thực chất đối với hệ thống thương mại tại tất cả nền kinh tế trong vùng. Lấy Hoa Kỳ làm ví dụ, với hệ thống NSW được vận hành hoàn chỉnh, nước này đã tiết kiệm được 1.8 tỷ USD trong năm tài chính 2020.
Việc Hoa Kỳ tham gia sâu vào tiến trình xây dựng NSW tại các đối tác thương mại thực chất chỉ là quá trình tiếp thục thực thi những chính sách sẵn có thông qua USAID. Các NSW tại Đông Nam Á đang trong những giai đoạn phát triển khác nhau, do vậy sự trợ giúp của Hoa Kỳ cần được triển khai ở những cấp độ khác nhau tại từng nước. Ví dụ tại Lào và Campuchia, nơi việc triển khai NSW mới chỉ ở giai đoạn đầu, hoạt động hỗ trợ nên tập trung vào quá trình vận hành, đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quy định liên quan cũng như tăng cường hiệu lực của NSW. Đối với những quốc gia đã đạt bước tiến trong việc phát triển NSW như Malaysia, Thái Lan hay Singapore, hỗ trợ nên đổ dồn vào quá trình tăng cường tính kết nối, hiệu suất và cá biệt hóa hoạt động, gồm cả thúc đẩy kết nối logistics thương mại.
Với những đối tác có NSW hoàn thiện ở cấp độ cao như Malaysia hay Thái Lan, xứ cờ hoa cần chú trọng thúc đẩy tính liên kết giữa các hệ thống này nhằm tăng cường sự kết nối, ổn định và tự động hóa trong giám sát giao thương cấp độ khu vực. Thông qua Ý định thư ký kết năm 2020 giữa Cục Hải quan và biên giới Hoa Kỳ với Cục Hải quan Singapore, Mỹ và quốc đảo sư tử đã và đang tiến đến kết nối hải quan tại hai quốc gia. Mặc dù việc kết nối thông qua cơ chế Một cửa vẫn còn chưa khả thi trong tương lai gần, Hoa Kỳ cũng cần tích cực hơn trong việc thiết lập cơ chế trao đổi dữ liệu cấp chính phủ nhằm đảm bảo dòng chảy thương mại ổn định và an toàn gữa nước này với các đối tác thương mại tại Đông Nam Á.
Một cơ chế rộng mở cấp khu vực
Nhằm biến IPEF thành một cơ chế rộng mở, Hoa Kỳ cần hướng sự chú ý vào những nền kinh tế lớn và mới nổi trong khu vực như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam. Những hỗ trợ được thiết kế đặc thù phù hợp với tình hình mỗi nước nên đươc coi là ưu tiên trong chính sách của Hoa Kỳ nhằm khuyến khích các đối tác tham gia sâu hơn vào IPEF.
Thái Lan hiện đã sẵn có một cơ chế tạo thuận lợi thương mại rất hữu hiệu, do vậy, cơ hội cho sự trợ giúp của Hoa Kỳ là khá hạn chế. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có thể hướng sự hỗ trợ của mình đến khu vực tư. Ví dụ, họ có thể hỗ trợ kết nối trực tiếp khu vực tư nhân với chính phủ các quốc gia khác trong khu vực thay vì chỉ hướng dẫn họ truy cập vào trang thông tin điện tử tại từng nước. Bên cạnh đó xứ cờ hoa cũng có thể hỗ trợ Thái Lan tích hợp thanh toán và chứng nhận điện tử vào NSW. Ngoài ra, Washington cũng nên giúp cơ quan hải quan xứ chùa tháp nâng cao năng lực dịch thuật đối với thủ tục hải quan và trong hoạt động vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới.
Indonesia cũng sỡ hữu một cơ chế tạo thuận lợi thương mại khá hiện đại, tuy nhiên, cũng như Thái Lan, Hoa Kỳ cũng có thể hỗ trợ xứ vạn đảo cải thiện hơn NSW nội địa cũng như đánh giá tác động của hệ thống này đến vấn đề thương mại, đặc biệt là đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, Mỹ cũng cần hỗ trợ Indonesia trong quá trình triển khai công nghệ tiến đến hình thành hệ thống hải quan không giấy tờ.
Cơ chế thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển, do vậy vẫn còn nhiều cơ hội cho sự hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực này. Tại đất nước hình chữ S, hàng hóa nhập khẩu vốn đang sự điều chỉnh bởi hơn 300 quy định do những cơ quan khác nhau ban hành. Để tuân thủ đầy đủ những điều khoản phức tạp đã nêu, các doanh nghiệp phải đầu tư nhiều nguồn lực và thời gian – những gánh nặng với SMEs
Hoa Kỳ cũng có thể hỗ trợ Việt Nam phát triển NSW. Một trong những lựa chọn chính là xứ cờ hoa có thể quốc gia hình chữ S hài hòa hóa năng lực kiểm soát rủi to trong hoạt động hải quan. Các thương nhân thường phàn nàn rằng họ phải tốn nhiều thời gian và công sức để hoàn thành thủ tục hành chính do nhiều bộ ngành ban hành đặc biệt trong vấn đề thông quan hàng hóa. Những sự trợ giúp của Hoa Kỳ là rất quan trọng đối với Việt Nam trong quá trình nước này hoàn thiện NSW hướng đến sự minh bạch, đơn giản, đồng bộ và hiện đại hóa trong hoạt động hải quan, phù hợp với chiến lược mà chính phủ đất nước hình chữ S theo đuổi.
Một lược chọn khác là Hoa Kỳ trợ giúp Việt Nam xây dựng sơ sở dữ liệu về các biện pháp phi thuế quan (NTMs) cũng như kho lưu trữ liên quan hoạt động giao thương quốc tế của thương nhân. Có thể nói, mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ phía Cơ quan hải quan, những cơ chế vừa nêu tại Việt Nam vẫn hoạt động thiếu ổn định trên nền những thông tin cũ và không còn phù hợp.
Những vấn đề nêu trên không mang tính đặc thù tại Thái Lan, Indonesia hay Việt Nam. Do đó, Hoa Kỳ nên coi vấn đề của những nước này là ưu tiên trong nội dung về tạo thuận lợi thương mại của IPEF, từ đó thu hút sự tham gia của các quốc gia khác trong khu vực có cùng quan tâm về chủ đề đã nêu.
Mặc dù tạo thuận lợi thương mại là công cụ quan trong nhằm thu hút sự quan tâm của các nền kinh tế đang phát triển đối với IPEF, tuy nhiên, đây không nên là biện pháp duy nhất. Xứ cờ hoa phải cung ứng những lợi ích khác như thiết lập quan hệ đối tác tiến đến phát triển chuỗi cung ứng bền vững, hỗ trợ tài chính do các dự án hạ tầng cũng như thúc đẩy chuyển đổi năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, thuận lợi hóa có thể là ưu tiên chính sách trong IPEF qua đó gửi tín hiệu đến các đối tác thương mại tiềm năng rằng Hoa Kỳ đang lắng nghe và sẵn sàng biến mối quan tâm của họ thành nội dung của IPEF, đồng thời hỗ trợ họ thực hiện các cam kết.
Nguồn: Atlantic Council
Từ khóa: IPEF, Hoa Kỳ, ASEAN, thuận lợi hóa






















