JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnRCEP và ASEAN: cũ và mới

RCEP và ASEAN: cũ và mới

2020 03 12T120000Z 1519000814 MT1IMGCN000L2XH1A RTRMADP 3 MALAYSIA KUALA LUMPUR CITY CENTER LANDMARK PETRONAS TOWERS 400x264Để hiểu rõ mối quan hệ đa phương giữa ASEAN và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) nên tách bạch các nhóm thành viên với nhau như giữa thành viên mới và kém phát triển hơn như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (CLMV) và các thành viên cũ và phát triển hơn như Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (ASEAN+ 6). RCEP có một chương trình nghị sự đa dạng cùng các cơ hội và thách thức khác nhau giữa hai nhóm trên.

Nếu có một ASEAN cũ và mới, thì RCEP cũng bao gồm các vấn đề cũ liên quan đến thuế quan và vấn đề mới liên quan đến các yếu tố phi thuế quan. Các vấn đề cũ bao gồm thương mại hàng hóa, quy tắc xuất xứ (RoO), thủ tục hải quan và các rào cản thương mại. Những vấn đề mới là về WTO+ hay WTO-x và bao gồm thương mại dịch vụ, thương mại điện tử, quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh.

Mặc dù, đây được xem là một thách thức, ASEAN+ 6 có cơ hội tốt để theo đuổi các vấn đề mới trong RCEP. Các nước CLMV vẫn đang thụt lùi phía sau và đang cố gắng giải quyết những vấn đề cũ. Các phân tích tác động của RCEP thường tập trung vào cách những vấn đề mới sẽ ảnh hưởng lên các nước thành viên phát triển hơn, bao gồm ASEAN+6. Để giải quyết sự mất cân bằng này cần phải xem xét các cơ hội mà RCEP mang lại cho các nước CLMV.

Vị trí trung tâm của ASEAN là chìa khóa cho sự hình thành của RCEP và sẽ tiếp tục duy trì thế mạnh bằng cách tạo ra sự cân bằng địa chính trị nổi bật. Nếu hiệp định RCEP làm gia tăng khoảng cách phát triển trong ASEAN, thì sự gắn kết và vai trò cân bằng của ASEAN sẽ bị giảm sút. Việc đảm bảo thành viên cũ và mới đều có lợi là điều quan trọng đối với tương lai của ASEAN và RCEP. 

Quyền lợi của cả thành viên cũ và mới sẽ được đảm bảo với một hiệp định RCEP cởi mở và hướng ngoại. Hiệp định mở đối với các thành viên trong tương lai tham gia một cách tương đối dễ dàng và giảm thiểu sự phân biệt đối xử với những nước không phải thành viên. Đối với phần lớn các vấn đề (phi thuế quan) mới, việc loại trừ các nước không phải thành viên tham gia hiệp định sau khi RCEP được thực thi là không thực tế và tốn kém chi phí. Các vấn đề nảy sinh từ hoạt động tuân thủ cơ chế thực thi – vì chỉ các thành viên mới có quyền sử dụng các cơ chế thực thi và khi việc không tuân thủ làm giảm lợi ích tổng thể. Khó khăn trong việc ngăn cản lợi ích không thỏa đáng đối với phần lớn vấn đề mới sao cho đảm bảo giảm thiểu được sự phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, điều này lại không đúng với thuế quan, thuế quan cần có những nỗ lực rõ ràng, tự nguyện để giảm thiểu sự phân biệt đối xử. RCEP tạo ra cơ hội cho các nước CLMV bắt kịp ASEAN+6 và xóa bỏ thuế quan theo lộ trình.

Mặc dù ASEAN+6 đã đa phương hóa phần lớn các mức thuế ưu đãi của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA) bằng cách chỉ cho phép các nước không phải thành viên áp dụng mức thuế tối huệ quốc (MFN) ngoại trừ các nước CLMV. Đa phương hóa tạo cơ sở cho chủ nghĩa khu vực cởi mở và hỗ trợ giảm và thậm chí xóa bỏ biên độ ưu tiên (MOP)- sự khác nhau giữa mức thuế trong ATIGA và MFN. Năm 2018, MOP tính theo tỷ trọng nhập khẩu dành cho các nước CLMV chiếm khoảng 10%, cao hơn gấp đôi các nước ASEAN+ 6. Cơ sở lý luận của việc sử dụng hiệp định RCEP để đa phương hóa chủ nghĩa khu vực cũng giống như cơ sở tham gia RCEP.

Các quốc gia ASEAN có nhiều hiệp định thương mại tự do (FTAs) với nhau và với các thành viên RCEP khác. Giá trị gia tăng từ RCEP đến từ việc tăng cường sử dụng các hiệp định ưu đãi bằng cách thống nhất RoO và mở rộng quy tắc cộng gộp. Khi ưu đãi được đa phương hóa hoàn toàn, RoO không còn bắt buộc và các thành viên có thể tìm nguồn đầu vào từ các nhà cung ứng rẻ nhất trên toàn cầu. Điều này sẽ hỗ trợ phát triển các chuỗi cung ứng và cho phép RCEP mang lại quyền lợi lớn nhất cho các nước thành viên.

Việc các nước CLMV tự nguyện giảm thuế cho các nước không phải thành viên làm dấy lên lo ngại về việc thất thu thuế. Đóng góp của thuế thương mại vào nguồn thu của chính phủ các nước CLMV đã giảm dần theo thời gian nhưng hiên nay vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể.

Năm 2019, ở Campuchia thuế thương mại chiếm hơn 10% doanh thu chính phủ so với mức 3% và 1% lần lượt ở Thái Lan và Malaysia. Phần lớn mặt hàng nhập khẩu của Campuchia theo các FTA tạo ra nguồn thu thuế thương mại cao, từ đó cho thấy bản chất thật của chế độ thuế quan. Điều này thể hiện thông qua khoảng cách lớn giữa mức thuế suất bắt buộc, thuế suất ưu đãi thấp và thuế suất MFN cao bất thường.

Mỗi nước duy trì một chế độ thuế quan khác nhau cho mỗi FTA ký kết nhằm bù đắp cho các khoản lỗ doanh thu thuế dự kiến. Tác động đối với nguồn thu của một hệ thống nhiều mức thuế suất so với một hệ thống đa phương hoặc áp dụng một tỷ suất thuế sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố- chi phí quản lý và hoạt động thu thuế. Trong cả hai trường hợp, đa phương hóa vẫn là phương án triển vọng hơn.

Các chi phí liên quan đến quản lý hệ thống nhiều mức thuế suất cao hơn so với hệ thống một mức thuế suất. Để sử dụng tỷ suất cũ, cơ quan hải quan phải thực thi RoO để xác định áp dụng mức thuế suất nào. Những hạn chế về năng lực địa phương và chuỗi cung ứng toàn cầu làm phức tạp thêm các công tác hành chính này. Doanh nghiệp cũng sẽ đối mặt với chi phí tuân thủ cao hơn trong hệ thống đa thuế suất.

Doanh thu thuế quan bổ sung sẽ chỉ được thu nếu hàng nhập khẩu ngoài FTA bị đánh thuế suất cao hơn. Nếu có sự khác biệt đáng kể giữa hai mức thuế suất này lập tức sẽ tạo ra độ lệch trong thương mại. Hàng hóa từ ngoài khối RCEP có thể vào khu vực RCEP thông qua một quốc gia mà có mức thuế MFN thấp chẳng hạn như Singapore và sau đó tái xuất khẩu sang các nước CLMV, loại trừ các nước CLMV khỏi doanh thu thuế quan dự kiến.

Việc tạo ra một hệ thống đa mức thuế suất áp dụng cho mỗi dòng thuế cũng làm tăng tiềm năng cho tham nhũng và buôn lậu. Ngoài ra, một số loại thuế thương mại có lẽ được thu một cách tư riêng tư thay vì công khai và các đường biên giới lỏng lẻo giữa khu vực sông Mekong là các yếu tố tạo điều kiện cho luồng thương mại bất hợp pháp hoạt động. Một hệ thống thuế suất đơn phương được đa phương hóa nhằm giúp loại bỏ MOP và giải quyết các vấn đề trên; trong khi vẫn tối đa hóa tiềm năng phát triển thương mại và giảm thiểu chuyển hướng thương mại.

Trong khi các nước CLMV phản đối thỏa thuận ATIGA đa phương hóa thì tại sao các nước này lại ủng hộ sự đa phương hóa của RCEP? Lý do có thể xuất phát từ lợi thế cạnh tranh mà nhà xuất khẩu được hưởng ở thị trường nước ngoài giảm khi các hiệp định thương mại tự do tăng nhanh. Các nước CLMV đã ký kết nhiều FTA và sẽ bắt đầu thấy lợi ích từ các FTA bổ sung bắt đầu giảm đi. Vì phần lớn thương mại của CLMV thường là với các nước RCEP nên khả năng phản đối đa phương hóa của các nước này sẽ giảm đi.

Các thành viên cũ và mới của ASEAN tiếp tục theo đuổi các FTA một cách tích cực. Sự tăng nhanh của các FTA có thể gây trở ngại cho thương mại và sự phản đối chủ nghĩa khu vực mở rộng; tuy nhiên, các thỏa thuận FTA đa phương hóa sẽ giúp giảm thiểu những tác động bất lợi này. Do đó, điều quan trọng là chương trình nghị sự hợp tác kỹ thuật và kinh tế của RCEP phải bao gồm đa phương hóa. Trong khi ASEAN+6 sử dụng ATIGA để đa phương hóa các ưu đãi thuế quan của mình, hiệp định RCEP hiện cung cấp cho các nước CLMV cơ hội tốt để thực hiện mở cửa khu vực.

Nguồn: East Asia Forum

Từ khóa: ASEAN, ATIGA, RCEP

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008793444
Go to top