Báo cáo gần đây của WB cung cấp phân tích sâu về tác động của RCEP đối với môi trường kinh tế tại các nước thành viên hiệp định, trong đó có Việt Nam. Báo cáo nêu bật các sự kiện và thống kê về lý do và cách thức Việt Nam tuy là một quốc gia có thu nhập trung bình nhưng vẫn có thể hưởng lợi lớn từ hiệp định RCEP.
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2022. Các nước thành viên RCEP chiếm gần 1/3 GDP và dân số thế giới và 1/5 giá trị xuất khẩu và nhập khẩu toàn cầu. Nếu thực thi thành công, hiệp định có thể có tác động đáng kể không chỉ với Việt Nam mà còn đối với nền kinh tế thế giới.
Báo cáo Ngân hàng Thế giới
Sách trắng của Ngân hàng Thế giới (WB) với tiêu đề “Ước tính tác động kinh tế và phân phối của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực” đã xây dựng một kịch bản cơ sở còn gọi là mức cơ sở và bốn kịch bản thay thế để ước tính tác động kinh tế và phân phối của RCEP ở Việt Nam. Kịch bản cơ sở phản ánh các điều kiện kinh doanh trước khi thực thi RCEP, kể đến thuế quan của các hiệp định trước đây, bao gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã được thực hiện cùng thời điểm khi chiến tranh thương mại Mỹ- Trung nổ ra.
Tiếp theo, bốn kịch bản chính sách thay thế được trình bày chi tiết bên dưới, so sánh với kịch bản cơ sở để xác định tác động của RCEP đối với nền kinh tế Việt Nam.
Bốn kịch bản chính sách thay thế xem xét tác động của các các chính sách khác nhau để đo lường tác động của RCEP. Những chính sách này xét từ tác động của thuế quan và các biện pháp phi thuế quan (NTMs) cho đến các chính sách về chi phí thương mại.
Theo UNCTAD, NTMs là các biện pháp chính sách, khác với thuế quan thông thường và có thể có tác động kinh tế đối với thương mại hàng hóa quốc tế. Các yêu cầu kỹ thuật, trợ cấp xuất khẩu, giá nhập khẩu tối thiểu và các yêu cầu về tuân thủ môi trường và sức khỏe là một số ví dụ về NTMs.
| Kịch bản chính sách của RCEP | ||
| Kịch bản | Chính sách | Nội dung chi tiết |
|
Thuế quan |
|
|
Thuế quan và các biện pháp phi thuế quan |
- Giảm 35% đối với nông sản - Giảm 25% đối với sản phẩm sản xuất - Giảm 25% đối với sản phẩm dịch vụ |
|
Thuế quan, các biện pháp phi thuế và chi phí thương mại |
|
|
Thuế quan, các biện pháp phi thuế và chi phí thương mại | Giống kịch bản 3 nhưng sẽ gia tăng năng suất của nền kinh tế hơn |
Tác động kinh tế vĩ mô
Theo kịch bản cơ sở, giai đoạn 2020- 2035, Việt Nam áp thuế quan sẽ giảm trung bình từ 0.8% xuống 0.2%, trong khi thuế quan áp dụng cho Việt Nam giảm từ 0.6% xuống còn 0.1%.
Trong kịch bản lạc quan nhất (kịch bản số 4), khi tất cả các lợi ích được tận dụng, Việt Nam sẽ hưởng lợi cao nhất trong số các nước thành viên RCEP. Mức thu nhập của Việt nam tăng lên 4.9% so với mức cơ sở và cao hơn các quốc gia khác có mức thu nhập chỉ tăng thêm 2.5%.
Mặc dù xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng đối với tất cả các nước thành viên RCEP, Việt Nam dự kiến sẽ có mức tăng xuất khẩu cao nhất ở mức 11.4%. Tương tự, nhập khẩu của Việt Nam cũng tăng đáng kể ở mức 9.2% so với mức 7.2% của Phillipines.
Trong đó, lĩnh vực xe có động cơ tăng mạnh ở Việt Nam đạt 18.6%, tiếp theo là dệt vải 16.2% và may mặc 14.9%, chủ yếu là do việc xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan.
Trong kịch bản chỉ thực hiện cắt giảm thuế quan (kịch bản 1), tác động đối với nền kinh tế Việt Nam là không đáng kể, với mức thu nhập tăng gần bằng không. Thương mại cũng giảm nhẹ so với kịch bản cơ sở, trong đó xuất khẩu và nhập khẩu giảm 0.3%. Nguyên nhân bởi vì Việt Nam hiện đã được hưởng mức thuế tương đối thấp nhờ vào các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam là thành viên.
Tác động lên ngành công nghiệp
Hiệp định RCEP tạo ra cơ hội để thúc đẩy tăng trưởng và hỗ trợ phục hồi sau đại dịch Covid-19. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam và Malaysia là những nước dự kiến sẽ hưởng lợi cao nhất. Hiệp định cũng sẽ giúp Việt Nam tiếp cận các thị trường tiêu dùng lớn gấp đôi quy mô các thị trường có trong hiệp định CPTPP, cụ thể như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Tuy nhiên, đồng thời RCEP cũng đặt ra một số thách thức khó tránh đối với Việt Nam khi phải nâng cấp tiêu chuẩn bản thân để theo kịp nhu cầu cao hơn và cạnh tranh gay gắt.
Thiết bị và máy móc điện tử
Theo báo cáo của WB, thiết bị và máy móc điện tử dự kiến phát triển mạnh ở Việt Nam đạt mức 12.1%. Nhờ thuế quan giảm cũng như các chính sách lạc quan liên quan đến quy tắc xuất xứ, xuất khẩu của ngành này sẽ tăng trưởng đáng kể. Thiết bị và máy móc điện tử của Việt Nam dự kiến sẽ xuất sang các nước thành viên RCEP.
Hàng dệt may
Tiếp theo là xuất khẩu hàng dệt và may mặc chiếm vị trí thứ hai trên thế giới đạt 9% tổng giá trị xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng của ngành dệt chủ yếu nhờ vào nhu cầu tăng cao từ các nước RCEP trong khi sản phẩm quần áo may mặc lại có nhu cầu ngày càng tăng trên toàn cầu.
Gỗ và sản phẩm giấy
Việt Nam dự kiến nhập khẩu nhiều sản phẩm gỗ và giấy hơn từ các nước ngoài khối RCEP, trong đó mức độ xuất khẩu những mặt hàng này hiện không đáng kể. Do vậy, ngành dự kiến sẽ giảm 0.5% sản lượng.
Dược phẩm
Tương tự, ngành dược phẩm dự kiến tăng ít hơn do cạnh tranh mạnh mẽ từ các thị trường khác như Ấn Độ và Trung Quốc. Ngành cũng phải chịu các biện pháp phi thuế quan không có lợi cũng như nguồn nguyên liệu đầu vào hạn chế do ngành dược phẩm của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn cung đầu vào từ Ấn Độ và Trung Quốc. Theo WB, ngành dự kiến sẽ giảm 1.6% tăng trưởng so với kịch bản cơ sở.
Ý nghĩa kinh tế- xã hội
Tiền lương cao hơn cho phụ nữ
Khả năng phục hồi kinh tế và tăng trưởng bền vững được thúc đẩy mạnh mẽ tại khu vực RCEP, đặc biệt ở Việt Nam và Trung Quốc, tình trạng nghèo cùng cực theo kịch bản cơ sở dự kiến sẽ giảm 0.98% trong năm 2020 xuống còn 0.12% vào năm 2035.
Do đó, hiệp định RCEP cũng sẽ mang lại sự bình đẳng hơn trong thị trường việc làm. Bằng cách tạo ra cơ hội việc làm trong các lĩnh vực của nền kinh tế nơi tuyển dụng nhiều phụ nữ hơn, như ngành dệt, may mặc, điện tử và một số lĩnh vực dịch vụ, tiền lương của lao động nữ sẽ tăng nhanh hơn tiền lương của lao động nam, đặc biệt ở Việt Nam.
Tiền lương của Việt Nam tăng hàng năm từ 0.76 và 0.67 điểm phần trăm so với mức cơ sở đối với cả nữ và nam, so với các nước láng giềng trong khu vực như Philippines- nước có tiền lương dự kiến tăng hàng năm từ 0.13 và 0.11 điểm phần trăm lần lượt đối với nhân công nữ và nhân công nam.
Tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển
Một nửa dân số trong hiệp định RCEP, tương ứng 1.1 tỷ người, đóng góp tương đương 10 đô la Mỹ một ngày hoặc nhiều hơn tính theo sức mua hàng hóa. Nếu thực thi thành công, quan hệ đối tác trong khối có thể thu hút thêm 27 triệu người vào tầng lớp trung lưu vào năm 2035.
Cụ thể, Việt Nam dự kiến sẽ hưởng lợi lớn nhất khi có thêm 1.7 triệu người bước vào tầng lớp trung lưu và có tốc độ tăng tiền lương nhanh nhất trong số các nước RCEP, ở cả lao động nam và nữ. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển đáng kể đối với hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng như thực phẩm và đồ uống, giải trí, sản phẩm phong cách sống và dịch vụ, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Lợi ích dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Thêm vào đó, việc đơn giản hóa các thủ tục như hải quan và quy tắc xuất xứ sẽ giúp giảm tình trạng quan liêu vì cho phép nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào quá trình. SMEs chiếm tới 98% các doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thể các doanh nghiệp này đóng góp khoảng 40% GDP và do đó hiệp định RCEP tạo ra cơ hội đáng kể dành cho các SME Việt Nam trong việc nâng cao chuỗi giá trị.
Quy tắc xuất xứ
Các lợi ích về quy tắc xuất xứ theo RCEP có thể khá khiêm tốn với Việt Nam khi so sánh với những lợi ích đạt được trong CPTPP và EVFTA.
Tuy nhiên, lợi ích về quy tắc xuất xứ có thể tăng đáng kể nếu Việt Nam giảm thuế và xóa bỏ bớt các biện pháp phi thuế quan thành công và tận dụng tốt các quy tắc xuất xứ.
Ngoài ra, quy tắc xuất xứ cũng có thể khiến xuất khẩu ít phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu trong khi vẫn khuyến khích các nước thành viên hoạt động nhiều hơn trong chuỗi cung ứng khu vực. Với việc thực thi quy tắc xuất xứ cùng với việc cắt giảm thuế quan và biện pháp phi thuế, tổng kim ngạch xuất khẩu từ các nước RCEP có thể tăng trung bình 5.2%.
Khi các nước thành viên hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, các nước thành viên RCEP cũng có thể hưởng lợi từ hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ hơn.
Thách thức
Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng lưu ý rằng một khi RCEP có hiệu lực, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đối mặt với sự cạnh tranh cả trong nước và trên thị trường xuất khẩu quốc tế.
Ngoài ra, chính phủ cũng phải lưu ý cẩn thận về các chi phí liên quan đến RCEP. Điều này có thể bao gồm chi phí phát sinh từ việc cắt giảm các rào cản phi thuế quan và chi phí chuyển đổi liên quan đến các thay đổi cơ cấu trong thương mại như thay đổi việc làm.
Xem xét những yếu tố này sẽ giúp tạo ra một môi trường mà các nhà xuất khẩu có thể tận dụng tối đa các quy tắc xuất xứ chung mà không cần phải trả chi phí cao.
Lưu ý
Hiện tại, thương mại trong các nước RCEP mới chỉ chiếm 20% tổng thương mại của các nước thành viên RCEP, do đó sự gia tăng dòng thương mại trong khu vực để thúc đẩy tăng trưởng còn rất nhiều tiềm năng.
Thêm vào đó, các nhà đầu tư muốn tận dụng lợi thế sản xuất ở châu Á nên nghiên cứu các văn bản FTA cẩn thận để tìm hiểu về các lợi thế. Những nhà sản xuất ở các nước tiên tiến hơn như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản có thể xem xét cách giảm thiểu chi phí bằng cách thuê gia công cho các công đoạn cuối cùng tại các nước ASEAN kém phát triển hơn để được hưởng lợi.
Đối với Việt Nam, vì nước này đã tham gia nhiều FTA khác nhau trong khu vực, nên phần lớn lợi ích không đến từ cam kết sâu sắc hơn và toàn diện hơn thông qua thương mại nội khối trong RCEP, quy tắc xuất xứ chung và độ mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ qua các thị trưởng cải thiện tốt, đặc biệt ở Trung Quốc.
Nguồn: Vietnam Briefing
Từ khóa: RCEP, Việt Nam, WB






















