JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnNhững thách thức đối với ASEAN trong thời kỳ hậu Covid-19

Những thách thức đối với ASEAN trong thời kỳ hậu Covid-19

asean countries

Hơn hai năm sau khi coronavirus xuất hiện, các quốc gia trên khắp châu Á đang bắt đầu dần hồi phục. Tại Đông Nam Á, tăng trưởng kinh tế dự kiến ​​sẽ đạt 5,1% trong năm nay, so với mức 3,2% trong năm 2021. Với 400 triệu người, tương đương 59% dân số, được tiêm chủng đầy đủ, nhiều nền kinh tế đang trên đà mở cửa trở lại.

Ở Campuchia, các ngành truyền thống thúc đẩy tăng trưởng như du lịch và khách sạn, xây dựng và may mặc đã bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, sự gia tăng lớn trong xuất khẩu nông sản như chuối, một phần nhờ vào các hiệp định thương mại tự do mới với Trung Quốc và Hàn Quốc, và sự tăng trưởng nhanh chóng trong các lô hàng phụ tùng điện, xe đạp và phụ tùng xe cộ đã mang lại hy vọng.

Tuy nhiên biến thể Omicron tiếp tục gây bệnh lan rộng, mặc dù nhẹ trong hầu hết các trường hợp, nhưng vẫn làm giảm tốc độ tăng trưởng. Tại Trung Quốc, các đợt đóng cửa lớn có thể gây ra những hậu quả kinh tế nặng nề cho khu vực nếu các nhà chức trách không thể sớm kiểm soát các đợt bùng phát mới.

Hiện nay, cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine đe dọa sự hồi phục không đồng đều. Đi kèm với tình trạng khủng hoảng kinh tế do đợt bùng phát kéo dài, tình trạng thắt chặt tài chính ở Mỹ và sự trỗi dậy của đại dịch trong bối cảnh các chính sách zero-covid ở Trung Quốc, các chuyên gia kinh tế cho biết.

Những cú sốc do chiến tranh và các lệnh trừng phạt đối với Nga đang làm gián đoạn nguồn cung hàng hóa. Các quốc gia châu Á là nhà nhập khẩu nhiên liệu lớn, bao gồm cả Thái Lan, đang chứng kiến ​​sự sụt giảm trong thu nhập thực tế. Các quốc gia nợ nhiều, đặc biệt là Lào, và các nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, như Malaysia và Việt Nam rất dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc tài chính và tăng trưởng toàn cầu.

Aaditya Mattoo, nhà kinh tế trưởng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới cho biết: “Sự liên tiếp các cú sốc có nghĩa là nỗi đau kinh tế ngày càng tăng, người dân sẽ phải đối mặt với thu hẹp khả năng tài chính của các chính phủ”.

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cảnh báo rằng, các điều kiện ở Đông Nam Á vẫn còn mong manh và nhiều hộ gia đình tiếp tục bị thiệt hại về thu nhập lớn. Một số động cơ tăng trưởng truyền thống như du lịch, vận tải và dịch vụ cá nhân vẫn chưa thể phục hồi sớm.

Số người nghèo cùng cực (những người có mức sống sống dưới 1,90 USD mỗi ngày) trong khu vực đã tăng lên 5,4 triệu người vào năm 2020 trong bối cảnh hoạt động kinh tế suy giảm nghiêm trọng. Trong năm 2021, ước tính có thêm 4,7 triệu người rơi xuống dưới mức nghèo cùng cực so với con số dự kiến ​​không có Covid-19 vào năm 2020, theo báo cáo gần đây - Đông Nam Á Trỗi dậy từ Đại dịch cho biết.

Đại dịch cũng dẫn đến sự gián đoạn nghiêm trọng trong thị trường lao động. Tổ chức Lao động Quốc tế ước tính rằng có ít hơn 10,6 triệu lao động có việc làm trong khu vực vào năm 2020 so với kịch bản không có đại dịch. Mất việc làm đặc biệt khó khăn đối với phụ nữ, thanh niên và người lao động trong các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs). Nhu cầu lao động trong năm 2021 ít hơn so với kịch bản không có đại dịch ở mức 9,3 triệu người, con số này đối với năm 2022 là 4,1 triệu người.

Tại Indonesia, mặc dù ảnh hưởng kinh tế tương đối nhẹ và có sự cải thiện đáng kể vào năm 2021, tuy nhiên suy thoái kinh tế đã làm sụt giảm thu hút đầu tư và tăng số lượng người nghèo và công nhân thất nghiệp, theo báo cáo.

Trong khi đó, Philippines đã phải hứng chịu sự gián đoạn lớn của thị trường lao động, điều này có thể để lại tác động lâu dài. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm bớt nhưng vẫn cao hơn so với năm 2019 và nhiều người đang làm việc ít giờ hơn.

Phủ xanh Đông Nam Á

Khi nền kinh tế phục hồi, việc xây dựng nền tảng cho một tương lai bền vững hơn sẽ được ưu tiên hàng đầu. Theo bà Indranee Thurai Rajah, Bộ trưởng Thứ hai về Phát triển Quốc gia và Tài chính tại Singapore, việc xanh hóa chuỗi cung ứng, cơ sở hạ tầng và tài chính liên quan sẽ là chìa khóa.

Phát biểu tại Hội nghị chuyên đề về phát triển Đông Nam Á (SEADS) 2022 do ADB tổ chức vào giữa tháng 3: “Chúng ta sẽ cần giải quyết chung những gián đoạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và duy trì một hệ thống thương mại mở, ổn định và dựa trên quy tắc.

Bà nói, việc tích hợp các giải pháp xanh trong các giai đoạn khác nhau của chuỗi giá trị hậu cần sẽ không chỉ cải thiện năng suất mà còn giảm thiểu lượng khí thải carbon của khu vực.

Bà cũng nhấn mạnh sự cần thiết đối với cơ sở hạ tầng xanh để giải quyết các rủi ro về khí hậu. “Cơ sở hạ tầng đang và sẽ tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của Đông Nam Á. Với các hình thái thời tiết bất lợi hơn đe dọa các bờ biển trũng thấp, khu vực cần xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững và có khả năng phục hồi. Nếu không đầu tư thích đáng vào lĩnh vực này có thể dẫn đến tác động kinh tế nghiêm trọng đến môi trường và xã hội”.

Theo ước tính của ADB, Đông Nam Á cần khoảng 210 tỷ USD đầu tư cơ sở hạ tầng hàng năm để tiếp tục đà tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bà Rajah nói rằng chỉ có tài chính công sẽ không đủ. “Các nguồn lực tư nhân và thể chế phải được huy động để thu hẹp khoảng cách”.

Bà chỉ ra rằng khu vực tài chính cũng nên chuyển vốn nhiều hơn vào các dự án công nghệ và thân thiện với môi trường.

Kate Brandt, Giám đốc phát triển bền vững của Google nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ để mở ra các giải pháp xanh. Ví dụ, Gringgo Foundation đã phát triển một ứng dụng cho phép công nhân xử lý rác thải ở Indonesia theo dõi số lượng và loại rác thải mà họ thu gom. Điều  này đã dẫn đến cải thiện 35% tỷ lệ rác được tái chế.

Bà nói thêm, khí hậu ấm lên vẫn là một thách thức quan trọng đối với mọi người ở mọi cấp độ. “Đây là thập kỷ quyết định cho hành động, từ các chính phủ đặt ra tham vọng tự nhiên mạnh mẽ đến các công ty đưa tính bền vững vào mọi khía cạnh kinh doanh của họ, đến tất cả chúng ta cam kết hướng tới một lối sống bền vững hơn.”

Google đã khởi động quỹ hạt giống bền vững trị giá 6 triệu đô la để giúp các nhóm phi lợi nhuận ở châu Á Thái Bình Dương mở rộng quy mô các công nghệ xanh đầy hứa hẹn. Quỹ này sẽ tài trợ cho các sáng kiến ​​như cải thiện chất lượng không khí, bảo tồn tài nguyên nước và tăng cường khả năng tiếp cận năng lượng tái tạo.

Giá nhiên liệu hóa thạch cao có thể thúc đẩy việc chuyển sang năng lượng tái tạo, trong khi các công nghệ xanh đang trở nên khả thi hơn, Ngân hàng Thế giới nhận xét trong Bản cập nhật kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương mới nhất được phát hành vào tuần trước.

Theo báo cáo cập nhật: “Việc áp dụng các công nghệ sản xuất xanh sẽ cho phép các quốc gia cắt giảm lượng khí thải carbon và đối phó với tình trạng mất an toàn năng lượng mới mà không cần phải phục thuộc hoàn toàn trong tiêu thụ hoặc tăng trưởng”.

Tuy nhiên, không phải tất cả những thay đổi hiện tại sẽ ưu tiên các công nghệ xanh. Ngân hàng cảnh báo rằng mức giá nhiên liệu cao hiện nay cũng có thể gây ra nhiều đầu tư hơn vào việc sản xuất nhiên liệu hóa

thạch. "Và cuộc chiến ở Ukraine có thể làm giảm sự sẵn có của các nguyên liệu đầu vào quan trọng trong sản xuất hàng hóa xanh, như palladium và nickel."

Albert Park, chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, cho biết RCEP còn khá nghiều công việc đang được tiến hành vì nhiều chính phủ vẫn đang phải đối phó với những thách thức trong quá trình thực hiện.

Mô hình thương mại mới

Các hiệp định thương mại mới cũng có thể giúp tái thiết nền kinh tế Đông Nam Á, nổi bật nhất là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), có hiệu lực vào đầu năm nay.

RCEP, bao gồm 10 nước ASEAN cộng với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc và New Zealand, là  một FTA lớn nhất thế giới, chiếm 30% GDP toàn cầu (25,8 nghìn tỷ USD), 2,3 tỷ người tương đương với 30% dân số thế giới , và 25% (12,7 nghìn tỷ USD) giá trị thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu.

 “RCEP có tiềm năng tăng cường chuỗi cung ứng trong nội bộ khu vực và tăng cường tính bền vững vì nó đẩy mạnh hội nhập khu vực”, nhà kinh tế trưởng của ADB Albert Park lưu ý. “Thỏa thuận giải quyết các vấn đề thông thường liên quan đến các hoạt động thương mại và đầu tư với trọng tâm là sự thống nhất về quy định nhằm thúc đẩy một môi trường kinh doanh tốt hơn”.

Tuy nhiên, hiệp định vẫn còn khá nhiều công việc đang được tiến hành vì các chính phủ đang giải quyết các vấn đề thực thi khác nhau và “sẽ cần thời gian để thực hiện một cách hiệu quả”, ông lưu ý.

Cyn-Young Park, Giám đốc hợp tác và hội nhập khu vực của ADB, cho biết RCEP sẽ có tác động hội nhập lớn hơn so với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) gồm 11 quốc gia ASEAN - Brunei, Malaysia, Singapore và Việt Nam là trong số các thành viên của hiệp định.

Phát biểu tại hội nghị SEADS, bà cho biết cả hai hiệp định đều mang lại lợi nhuận “khá đáng kể”, trong đó CPTPP bổ sung thêm ước tính 188 tỷ USD vào thu nhập thế giới trong khi RCEP tạo ra thêm 263 tỷ USD.

“Đối với CPTPP, lợi nhuận chủ yếu đến các nước Đông Á bao gồm Nhật Bản và Malaysia, cũng như các nền kinh tế Bắc Mỹ. Đối với RCEP, các nền kinh tế Đông Á, cụ thể là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, được hưởng lợi nhiều nhất”.

Theo bà Park, RCEP sẽ tạo ra 2,6 triệu việc làm mới, so với 1,5 triệu việc làm từ CPTPP. Bà giải thích: “Trung Quốc sẽ mất việc làm một chút từ CPTPP nhưng sẽ đạt được 1,4 triệu việc làm từ RCEP.

Mexico và Việt Nam sẽ đạt được một số lợi ích đáng kể từ CPTPP và Việt Nam sẽ có nhiều việc làm hơn từ RCEP. Malaysia, Nhật Bản và New Zealand cũng sẽ có mức tăng việc làm nhỏ hơn nhưng tích cực.

Cả hai hiệp định đều giảm các rào cản thương mại tới 1/3 trong các lĩnh vực sản xuất. Trung Quốc sẽ đạt

được phần lớn từ việc cắt giảm các rào cản phi thương mại, nhưng đổi lại Bắc Kinh sẽ giảm bớt các rào cản đối với dịch vụ.

Bà Park nhấn mạnh: “RCEP cung cấp động lực quan trọng để xây dựng lại hệ thống thương mại toàn cầu đa phương dựa trên các quy tắc và hỗ trợ phục hồi kinh tế trong thời kỳ đại dịch.

Donna Gultom, Tổng giám đốc đàm phán thương mại quốc tế thuộc Bộ Thương mại Indonesia, cho biết RCEP là một “hiệp định sống động” có những thách thức khi thực hiện vì nó liên quan đến các quốc gia đang trong các giai đoạn phát triển khác nhau.

Bà Gultom, cựu giám đốc đàm phán thương mại ASEAN, người đã tham gia tám năm đàm phán RCEP, cho biết: “Indonesia hiện đang làm việc chăm chỉ để thực hiện thỏa thuận này.

“Chúng tôi (ASEAN) mong muốn có tác động lan tỏa đến các nước ASEAN. Chúng tôi nhận thấy các cơ hội, đặc biệt là đối với Indonesia, để thu hút các nhà đầu tư mới giúp chúng tôi phát triển nền kinh tế bằng cách tận dụng hiệp định này”.

Thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ

Đại dịch cũng cho thấy mức độ cấp thiết mới đối với việc thay đổi cách thức hoạt động của các doanh nghiệp, đáng chú ý nhất là về sự chuyển dịch sang kỹ thuật số. Người đồng sáng lập Grab, Hooi Ling Tan, cho biết tại diễn đàn SEADS, các doanh nghiệp nhỏ nhất của khu vực nói riêng cần được giúp đỡ về vấn đề này.

Ví dụ, Grab đã hợp tác với chính phủ Singapore để thực hiện các chương trình đào tạo ảo cho những người bán đồ ăn và thức uống nhỏ và những người bán hàng rong để họ có được các kỹ năng vận hành một doanh nghiệp trực tuyến. Grab cũng đã hợp tác với Microsoft để chạy các chương trình kỹ thuật số cho người lái xe.

Bà nói: “Grab đã tận mắt chứng kiến ​​quá trình chuyển đổi kỹ thuật số là thách thức đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ như thế nào”. “Và sự thật là, không chỉ đăng kí cho họ một ứng dụng hoặc một dịch vụ kỹ thuật số mà sau đó là mong đợi điều kỳ diệu sẽ xảy ra ngay sau đó.

“Chúng tôi cũng phải thực hiện các bước để đảm bảo rằng chúng được trang bị để khai thác tiềm năng thực sự của các công cụ kỹ thuật số này. Và một cách để làm điều này là đầu tư vào kiến thức kỹ thuật số và giáo dục.

Theo báo cáo của Tech for Good Institute, một tổ chức tư vấn của Grab, cho thấy rằng mặc dù 85% chủ doanh nghiệp nhỏ nhận ra rằng các nền tảng kỹ thuật số là rất quan trọng cho sự thành công trong tương lai của họ, nhưng chỉ có 36% thực sự sử dụng chúng.

“Do đó, các chính phủ và khu vực tư nhân bắt buộc phải làm việc cùng nhau để cung cấp cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ những kiến ​​thức và công cụ để phát triển trực tuyến.”

Bà nói thêm, Đông Nam Á cũng nên sử dụng các đổi mới fintech để cung cấp cho các MSMEs khả năng tiếp cận tín dụng, trích dẫn báo cáo của Tech for Good Institute cho thấy 60% MSME được khảo sát không thể vay được các khoản vay.

Tái tạo du lịch

Trong khi hầu hết các nền kinh tế khu vực đã mở cửa biên giới trở lại để đón du khác quốc tế, ngành du lịch vẫn đang quay cuồng trước những tác động của đại dịch kéo dài.

Giữa cuộc khủng hoảng, đã có những cơ hội xuất hiện để xây dựng lại ngành du lịch và định hình lại các thành phố để chúng bền vững hơn, hòa nhập hơn và ít bị ảnh hưởng hơn bởi các cú sốc.

Ví dụ, Philippines đang lập kế hoạch phát triển ngànhdu lịch trong 6 năm để làm cho ngành này có khả năng chống chọi tốt hơn với các cuộc khủng hoảng trong tương lai.

Bộ trưởng Du lịch Bernadette Romulo-Puyat cho biết: “Một trong những biện pháp tức thời nhất mà chính phủ đang thực hiện là khôi phục việc làm và sinh kế cho những công nhân du lịch, những người bị mất việc làm do đại dịch,”

Bà nói, đại dịch đã tạo cơ hội cho chính phủ suy nghĩ lại về du lịch và tạo ra “ngành công nghiệp du lịch của tương lai”.

“Kế hoạch mới phải truyền cảm hứng cho việc trải nghiệm của du khách trở nên phong phú hơn, sâu sắc hơn và chân thực hơn, đồng thời mang tính cạnh tranh hơn và mang đậm nét Philippines hơn”.

Để làm cho ngành này cạnh tranh hơn, Sở Du lịch đã xác nhận hơn 70 tuyến du lịch cung cấp các sản phẩm và trải nghiệm du lịch tốt nhất, bao gồm ẩm thực, lịch sử, thiên nhiên, sức khỏe, nông nghiệp và du lịch dựa trên tín ngưỡng. 49 tuyến khác đang được phát triển.

Chính phủ cũng đã theo dõi nhanh việc tiêm phòng cho các nhân viên du lịch, với 95% mục tiêu đã được tiêm. Tại các điểm đến chính như Thành phố Baguio, Coron, El Nido, Puerto Princesa, Boracay, Thành phố Davao và Bohol, trong số những nơi khác, 100% nhân viên du lịch đã được tiêm phòng và hiện đang được tiêm các mũi tăng cường.

Hợp tác với ABB để làm cho du lịch trở nên toàn diện và linh hoạt hơn, bộ đang giúp các MSME mở rộng

phạm vi tiếp cận thông qua tiếp thị trực tuyến, mở rộng các chiến dịch bền vững, nâng cao kỹ năng và chất lượng sản phẩm.

Nguồn: Khmer Times

Từ khóa: RCEP, du lịch, MSME, mô hình thương mại mới 

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008794381
Go to top