
Thách thức chủ yếu đối với Ấn Độ không phải từ việc đất nước tỷ dân tẩy chay hàng nhập khẩu Trung Quốc mà chính là viễn cảnh xứ Trung ngừng xuất khẩu hàng tới xứ sở sông Hằng
Nếu một cuộc xung đột nổ ra giữa Ấn Độ và Trung Quốc, liệu những gì chúng ta thấy trong mâu thuẫn Phương Tây và Nga có lặp lại trong bối cảnh tranh chấp giữa 2 cường quốc châu Á? Vào thời điểm bài báo này được viết, cuộc chiến giữa Nga và Ukraine đang diễn ra, theo đó, thương mại đã trở thành vũ khí của hai bên nhằm trả đũa lẫn nhau. Về phía Phương Tây, khối này đã cấm xuất khẩu nhiều mặt hàng trọng yếu đến xứ bạch dương như một lời đáp trả mạnh mẽ trước hành động xâm lược của Moscow. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, mặc dù Phương Tây bao gồm các nước châu Âu phụ thuộc nhiều vào những mặt hàng nhập khẩu trọng yếu từ Nga – như dầu và khí, xứ bạch dương khó có thể ngừng xuất khẩu những loại hàng đã nêu sang Phương Tây. Nói đơn giản là trong bối cảnh giao thương bị chính trị và vũ khí hóa, chúng ta có thể nhận diện rõ các bên phụ thuộc lẫn nhau ở lĩnh vực gì.
Vậy, khi một cuộc xung đột lý thuyết giữa Trung Quốc và Ấn Độ bùng phát, cuộc chiến tranh thương mại giữa hai quốc gia sẽ có dạng thức như thế nào? Nhìn chung, nhiều nhà bình luận tập trung vào đánh giá khả năng Ấn Độ sẽ giảm nhập khẩu từ xứ Trung như một cách thức trả đũa thương mại trong mâu thuẫn hai nước. Tuy nhiên, những gì chúng tôi sẽ nêu dưới đây sẽ hoàn toàn trái ngược với quan điểm phổ biến hiện nay.
Có thể nói quan hệ giao thương Trung-Ấn rất lớn về quy mô và độ phức tạp, do vậy, có rất ít dự báo về tình trạng bất định của New Delhi khi xung đột thương mại Ấn-Trung bùng nổ.
Đầu tiên, viễn cảnh Trung Quốc cấm xuất khẩu hàng hóa sang Ấn Độ sẽ tạo ra thách thức lớn đối với New Delhi, thay vì Bắc Kinh. Sự thật là cán cân giao thương Ấn Trung đang nghiêng về hướng có lợi cho Trung Quốc. Thâm hụt thương mại giữa hai nền kinh tế đã lên đến 44 tỷ USD trong niên khóa 2020-2021. Giai đoạn 2018-2019, trong tổng số 375 loại hàng hóa được nhập vào Ấn Độ, 80% có nguồn gốc từ Trung Quốc – theo nhận định của học giả Santosh Pai -Viện Nghiên cứu Trung Quốc. Về tổng thể, 70% hàng điện tử nhập khẩu vào Ấn như điện thoại hay ti vi được sản xuất tại quốc gia đông dân nhất hành tinh. Đối với nguyên liệu dược phẩm (APIs), hàng nhập khẩu xứ Trung chiếm đến 100% thị trường Ấn. Như vậy, Ấn Đố phụ thuộc lớn vào Trung Quốc trong quan hệ giao thương chứ không phải chiều ngược lại.
Trong bối cảnh căng thẳng giữa hai nước vào năm 2020, lời kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc tại xứ sở sông Hằng dường như không mang lại mấy kết quả. Có thể nói, không nhiều người Ấn muốn tẩy chay hàng nhập khẩu xứ Trung; ngay cả chính phủ Ấn cũng không có động thái gì nhằm chặn dòng xuất khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Nguyên nhân chỉ có thể là mối quan hệ thương mại rất sâu sắc giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, ở những lĩnh vực khác, Ấn Độ dường như có phản ứng mạnh mẽ hơn: họ phô diễn sức mạnh quân sự tại dãy Himalayas, hạn chế nguồn đầu tư từ Trung Quốc, chặn những dự án hạ tầng có dính líu đến các công ty xứ Trung, và ngừng hoạt động những ứng dụng di động do các doanh nghiệp quốc gia đông dân nhất thế giới phát triển.
Thứ hai, vấn đề đáng bàn chính là sự phụ thuộc chiến lược của Ấn Độ vào hàng nhập khẩu Trung Quốc. Từ quan điểm của các chính phủ, những thách thức an ninh và chính trị sẽ trở nên rõ ràng hơn khi một quốc gia phụ thuộc vào việc nhập khẩu những sản phẩm, dịch vụ quan trọng từ một nước không thân thiện. Xung đột kinh tế liên quan đến chiến tranh Nga-Ukraine là một ví dụ cụ thể đối với vấn đề đã nêu. Cần nhớ là nhiều mặt hàng xuất khẩu của Ấn có điểm xuất phát từ Trung Quốc, tiêu biểu phần lớn đồ chơi nhập khẩu tại thị trường Ấn Độ có nguồn gốc xứ Trung. Bên cạnh đó, quan trọng hơn, Ấn Độ nhập khẩu phần lớn nguyên liệu dùng cho công nghiệp dược phẩm; trên cơ sở đã nêu, bài viết sẽ phân tích liên quan đến quan hệ giao thương mặt hàng dược giữa Trung Quốc và Ấn Độ:
Một báo cáo năm 2020 do hai tác giả Biswajit Dhar và KS Chalapati Rao trình bày tại diễn đàn India Forum đã cung cấp số liệu về những mặt hàng nhập khẩu Trung Quốc đang thống lĩnh tại thị trường Ấn. Trong đó, 25 loại nguyên liệu thuốc có xuất xứ Trung Quốc chiếm đến 90-100% thị phần Ấn Độ. Những sản phẩm tiêu biểu là: Vitamin B12, penicillin, và những sản phẩm khác.
Nhiều quốc gia phụ thuộc vào nguyên liệu dược phẩm từ Trung Quốc, tuy nhiên, đối trường hợp của Ấn Độ, sự phụ thuộc là rất trầm trọng. Xứ sở sông Hằng là quốc gia sử dụng khối lượng lớn nguyên liệu cho ngành dược. Về phần mình, Ấn Độ cũng là nước xuất khẩu APIs tuy nhiên giá xuất khẩu Trung Quốc rẻ hơn so với xứ Ấn, thậm chí rẻ hơn hàng nội địa Ấn Độ. Quan trọng hơn, APIs dùng để sản xuất thuốc – một trong những loại hàng hóa xuất khẩu chủ lực của xứ sông Hằng.
Những vấn đề đã nêu trở nên rõ ràng hơn trong quá trình dịch COVID-19 bùng phát vào năm 2020; vào thời gian này, do vấn đề hạn chế di chuyển, xuất khẩu nguyên liệu dược sang xứ Ấn tạm thời bị đình hoãn. Cũng do thiếu hụt nguồn cung, New Dehli phải hạn chế xuất khẩu APIs sang những quốc gia khác nhằm đảm bảo đủ dược phẩm dùng trong nước. Điều này cho thấy nền kinh tế toàn cầu có sự gắn kết chặt chẽ, đồng thời phản ánh sự thật là đổ vỡ đứt gãy tại một cấu phần trong dây chuyền chung có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống. Sự đứt gãy như vừa nêu có thể xảy ra mà không có bất kỳ tranh cãi phát sinh nào giữa hai quốc gia. Khủng hoảng do COVID-19 cũng cho chúng ta những hình ảnh ban đầu về những gì có thể xảy ra khi Trung Quốc quyết định tạm ngừng xuất khẩu APIs sang Ấn Độ như một hình thức trả đũa chính trị.
Thứ ba, với Ấn Độ, quan hệ giao thương Ấn-Trung còn là sự lựa chọn giữa cung cấp sản phẩm giá rẻ cho người dân và vấn đề tăng cường an ninh. Nhiều người tiêu dùng Ấn từ cá nhân đến doanh nghiệp vừa và nhỏ đều đang hưởng lợi từ hàng nhập khẩu giá thành thấp từ quốc gia đông dân nhất thế giới. Một ví dụ cụ thể là thiết bị dùng trong nhà máy phát điện; những loại máy móc này có giá trị chiến lược và không nơi nào trên thế giới kể cả tại Ấn Độ, nhà nhập khẩu có thể tìm thấy loại thiết bị cùng loại với giá cả rẻ hơn từ nguồn cung Trung Quốc.
Nói tóm lại, hiện tại, 24% tổng điện năng tiêu thụ ở xứ sông Hằng được sản xuất từ các nhà máy điện sử dụng linh kiện nhập khẩu Trung Quốc. Thực tế đã nêu không hoàn toàn là sự phụ thuộc chiến lược nhưng chắc chắn mang đến rủi ro an ninh. Không thể phủ nhận, các doanh nghiệp Ấn đang cần thị trường Trung Quốc, chứ không phải chiều ngược lại. Trong bối cảnh một vài công ty Ấn đang yêu cầu hạn chế hoặc ngừng hòan toàn nhập khẩu từ xứ Trung, điều này cũng đồng nghĩa cộng đồng doanh nghiệp xứ sông Hằng phải chấp nhận chịu chi phí cao.
Can thiệp từ phía chính phủ trong vấn đề thương mại luôn phức tạp do họ cần đảm bảo cân bằng giữa yếu tố kinh tế và an ninh, chính trị. Khi kìm hãm giao thương, chính phủ một quốc gia đang tạo ra lợi thế chính trị hoặc an ninh trước một nước khác (ví dụ như việc các quốc gia đang tiến hành loại linh kiện Trung Quốc khỏi hệ thống thông tin nội địa). Tuy nhiên, bước đi đã nêu cũng tác động trực tiếp đến doanh nghiệp của chính quốc gia áp dụng kiểm soát giao thương. Nguyên nhân là hầu hết doanh nghiệp và người tiêu dùng đều muốn mua hàng hóa giá rẻ.
Thứ tư: Tự chủ kinh tế không phải là lựa chọn tốt cho Ấn Độ, New Dehli không thể chấm dứt hoàn toàn sự phuộc nguồn cung những sản phẩm thiết yếu từ nước ngoài. Những gì họ cần làm chính là giảm sự phụ thuộc vào giao thương với Trung Quốc. Hiện tại, nền kinh tế xứ sông Hằng chưa có khả năng tự sản xuất hoàn toàn những mặt hàng đang nhập từ xứ Trung. Như đã nêu, một số sản phẩm nhập khẩu Trung Quốc tại thị trường Ấn như thiết bị quang năng, APIs đang được bán với giá rẻ hơn nhiều so với hàng nhập khẩu cùng loại từ quốc gia thứ ba cũng như hàng sản xuất tại nội địa.
Do đó, trong một số lĩnh vực công nghiệp nhất định như APIs, và điện thoại, New Dehli đang khuyến khích nội địa hóa thông qua tăng cường năng lực doanh nghiệp nội hoặc khuyến khích dòng vốn đầu tư nước ngoài (không phải từ Trung Quốc), hướng đến mục tiêu giảm nhập khẩu từ quốc gia tỷ dân. Vấn đề quan tâm chính là vốn và công nghệ. Ví dụ, đối với Ấn Độ, sản xuất APIs không phải là thách thức lớn; tuy vậy mặt hàng điện thoại thông minh hay bán dẫn lại là câu chuyện khác. Nguồn đầu tư nước và công nghệ nước ngoài đóng vai trò trọng yếu trong nhiều lĩnh vực khác nhau, do vậy, New Dehli cần đa dạng hóa nguồn cung sản phẩm thiết yếu thông qua hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, qua đó giảm phụ thuộc vào xứ Trung, đồng thời tăng cường quan hệ giao thương với những đối tác có quan hệ chính trị tốt đẹp.
Thứ năm: Khi Ấn Độ phát biểu về vấn đề tẩy chay hàng Trung Quốc (do nguyên nhân nội sinh hoặc căng thẳng chính trị), viễn cảnh Bắc Kinh đáp trả thông qua việc cấm xuất khẩu sang xứ Ấn là nhân tố không thể bỏ qua. Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh tự do thương mại cũng như kêu gọi tách kinh tế khỏi những vấn đề chính trị. Tuy nhiên, giao thương thực chất là một công cụ chính trị hiệu quả đối với xứ Trung. Cấm hoàn toàn hoặc hạn chế xuất khẩu những mặt hàng chiến lược đến xứ sông Hằng sẽ tác động xấu tới một số doanh nghiệp Trung Hoa, tuy nhiên, cuối cùng thiệt hại đối với Ấn Độ sẽ lớn hơn nhiều.
Quan hệ giữa các quốc gia thường được định nghĩa bởi một từ “liên kết”; đây là ngôn từ miêu tả sự kết nối Trung-Ấn về mặt kinh tế, không phải về khía cạnh tinh thần.
Nguồn: The Diplomat
Từ khóa: Trung Quốc, Ấn Độ, thương mại, phụ thuộc






















