
Mở rộng hoạt động thương mại và đầu tư, từ đó bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau; nhưng cần giám sát các vấn đề liên quan đến quy tắc xuất xứ hàng hóa.
Với việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) với UAE vào ngày 18 tháng 2 năm 2022, Ấn Độ có vẻ đã bắt đầu bước vào một thời kỳ mới của các cuộc đàm phán hiệp định thương mại tự do (FTA) sau khoảng một thập kỷ ngưng trệ. Đây là FTA lớn đầu tiên - ngoại trừ hiệp định với Mauritius - được ký kết với Chính phủ Liên minh Dân chủ Quốc gia (NDA).
Kết quả của việc tận dụng FTA như khả năng thâm nhập thị trường, hội nhập với mạng lưới sản xuất khu vực hoặc toàn cầu,… đều không như mong đợi. Thực tế là Ấn Độ đã rất thận trọng khi đề cập đến các FTA. Trong bối cảnh đó, Hiệp định CEPA giữa Ấn Độ và UAE đã được ký kết trong khoảng thời gian kỷ lục với 90% nội dung đề cập đến thương mại hàng hóa song phương giữa hai nền kinh tế. Đây là một tín hiệu tích cực để Ấn Độ có thể ký kết các FTA với đối tác tiềm năng khác như Anh, Úc và EU.
Bên cạnh sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong cơ cấu kinh tế của hai quốc gia, CEPA giữa Ấn Độ và UAE sẽ cùng mang lại nhiều lợi ích cho cả hai nền kinh tế. Ấn Độ phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ và là một nền kinh tế với ngành nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo; trong khi UAE là một nền kinh tế mạnh về ngành dầu mỏ nhưng hạn chế về ngành nông nghiệp.
UAE là một nền kinh tế đóng vai trò trung chuyển, CEPA góp phần nâng cao triển vọng xuất khẩu của Ấn Độ không chỉ sang UAE mà còn sang các quốc gia khu vực Tây Á và thậm chí cả châu Phi. CEPA có thể giúp xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như đá quý và đồ trang sức, hàng dệt may, hàng da và cả xuất khẩu phần mềm sang các khu vực này thông qua UAE. Các đối tác thương mại của hai nước trong lĩnh vực hàng không, khách sạn, logistics, đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ tài chính và thương mại điện tử… đều có nhiều cơ hội từ CEPA.
Ấn Độ cũng kỳ vọng sẽ tăng cường đầu tư song phương vào các lĩnh vực tiềm năng như cơ sở hạ tầng, chế biến thực phẩm, năng lượng tái tạo, kinh tế số,… Mặt khác, UAE coi đây là cơ hội quan trọng để đa dạng hóa nền kinh tế vốn phụ thuộc vào dầu mỏ bằng cách thu hút nhiều đầu tư từ Ấn Độ. Cả hai nước đều đưa ra dự báo rằng CEPA sẽ thúc đẩy thương mại hàng hóa song phương, từ mức trước đại dịch Covid-19 là khoảng 60 tỷ USD lên 100 tỷ USD trong 5 năm tới.
Đối tác thương mại chính
Đối với Ấn Độ, UAE không chỉ là đối tác thương mại lớn nhất ở Tây Á mà còn đứng thứ ba trên thế giới sau Trung Quốc và Mỹ, đồng thời là một điểm đến xuất khẩu lý tưởng, lớn thứ hai trên toàn cầu. Mặt khác, đối với UAE, Ấn Độ là đối tác thương mại và xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, kim ngạch thương mại song phương giữa hai nền kinh tế trong 10 năm qua không có sự nổi bật nào.
Trong năm 2019, trước khi có đại dịch Covid-19, kim ngạch thương mại hàng hóa Ấn Độ-UAE ở mức 59,8 tỷ USD, không chỉ thấp hơn so với kim ngạch thương mại năm 2018 mà còn thấp hơn đáng kể so với kim ngạch thương mại song phương năm 2012 trị giá 73,6 tỷ USD. Trong khi xuất khẩu của Ấn Độ sang UAE đạt mức cao nhất vào năm 2011, thì nhập khẩu lại ở mức cao nhất vào năm 2012. Trong 5 năm qua, xuất khẩu của Ấn Độ sang UAE vẫn trì trệ. Hy vọng rằng với việc thực thi CEPA, tình hình này sẽ được cải thiện.
Tuy nhiên, do UAE là một nền kinh tế có thuế quan thấp, còn hạn chế trong các lĩnh vực cắt giảm thuế quan, do đó các nhà xuất khẩu Ấn Độ sẽ được hưởng lợi từ việc này. Ví dụ, mức thuế Tối huệ quốc (MFN) trung bình được áp dụng tại UAE chỉ ở mức 4,6% vào năm 2020 trong khi ở Ấn Độ là 15%. Mặc dù mức thuế tối đa thường là 5% nhưng hầu hết các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, da, giày dép,…chỉ có mức thuế trung bình là 5% hoặc thấp hơn.
Trong các ngành khác như sản xuất máy cơ, máy điện, thiết bị vận tải chiếm tỷ trọng đáng kể trong sản lượng hàng hóa xuất khẩu của Ấn Độ sang UAE, thuế suất tối đa lại là 5% và trung bình thì thuế suất thấp hơn 5%. Do đó, nếu giả định rằng thuế quan áp cho các ngành này được xóa bỏ hoàn toàn thì các nhà xuất khẩu Ấn Độ sẽ có lợi hơn 5% trong cạnh tranh về giá.
Tuy nhiên, biên độ này không hẳn là quá tệ do số lượng các FTA của UAE vẫn còn hạn chế đối với các nước Ả Rập. Hầu hết các nước đó không cạnh tranh với Ấn Độ trong các lĩnh vực mà Ấn Độ quan tâm. Để tăng cường việc tận dụng CEPA, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng chi phí tuân thủ vẫn ở mức tối thiểu.
Một vấn đề khác đối với Ấn Độ là việc nhập khẩu hàng hóa từ UAE có khả năng sẽ tăng vọt. Điều này chủ yếu là do UAE là một nền kinh tế trung chuyển và tái xuất khẩu chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này. Chẳng hạn, trong 10 năm qua, tỷ trọng tái xuất khẩu trong kim ngạch xuất khẩu toàn cầu của UAE nằm trong khoảng 23-55%. Tỷ lệ tái xuất khẩu trong xuất khẩu hàng hóa của nước này sang Ấn Độ dao động trong khoảng 48% đến 65%. Ấn Độ bắt buộc phải thực thi và giám sát các quy tắc xuất xứ hàng hóa chặt chẽ theo CEPA.
Điều quan trọng cần lưu ý là để được miễn thuế vào thị trường Ấn Độ theo CEPA, giá trị gia tăng trong hàng hóa của UAE bắt buộc phải được giữ ở mức 40%, cao hơn đáng kể so với các FTA khác đang ở mức 30 - 35%. Hy vọng rằng CEPA sẽ có một cơ chế để hiệp định được thực thi một cách hiệu quả.
Nguồn: Business Line
Từ khóa: Ấn Độ, UAE, CEPA, FTA, xuất nhập khẩu, quy tắc xuất xứ, thương mại song phương






















