
Hướng dẫn này rất cần thiết cho bất kỳ doanh nghiệp nào muốn thiết lập hoạt động tại Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, New Zealand, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan hoặc Việt Nam.
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2022 sau gần một thập kỷ đàm phán. Thỏa thuận này tập hợp Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, New Zealand, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam, để tạo thành khối kinh tế lớn nhất thế giới.
15 nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương này chiếm khoảng 30% dân số và GDP của thế giới, khiến RCEP trở thành thỏa thuận thương mại lớn nhất trong lịch sử.
Nền kinh tế Trung Quốc đi từ sức mạnh này sang sức mạnh khác
Cho đến nay, Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất tham gia vào RCEP. Với GDP đạt 14,7 triệu USD, quốc gia này chiếm hơn một nửa GDP tổng hợp của các nước thành viên RCEP trong năm 2020.
Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và được dự báo sẽ soán ngôi Mỹ vào năm 2028. GDP của nước này tăng trưởng ổn định trong giai đoạn được phân tích (1990–2020), ngay cả trong giai đoạn kinh tế toàn cầu khó khăn nghiêm trọng. Vượt qua cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 11% trong năm 2009. Gần đây hơn, GDP của Trung Quốc đã tăng 3,1% vào năm 2020 trong khi nhiều nền kinh tế lớn khác thu hẹp tăng trưởng do tác động kinh tế bởi Covid-19.
Theo số liệu do Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc công bố, GDP của nước này tăng 8,1% vào năm 2021. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử, nền kinh tế Trung Quốc đã vượt qua quy mô của nền kinh tế EU.
Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ 2 trong RCEP, chiếm khoảng 1/5 GDP tổng thể của đối tác vào năm 2020. Đây là quốc gia này lớn thứ ba trên thế giới tính theo GDP danh nghĩa và có thị trường tiêu dùng lớn thứ ba.
Nhật Bản nổi tiếng là một trong những quốc gia sáng tạo nhất thế giới và là một trong những quốc gia chi tiêu nhiều nhất cho R&D. Khu vực Tokyo-Yokohama được xếp hạng là cụm khoa học và công nghệ hàng đầu trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu năm 2021.
Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã phải hứng chịu những giai đoạn bất ổn về kinh tế. GDP của quốc gia này đã giảm 16,9% trong giai đoạn 2012 - 2013 do xuất khẩu suy yếu và đụng độ với đối tác thương mại chính là Trung Quốc. Nền kinh tế tiếp tục suy giảm trong năm 2014 và 2015. Sau khi tăng nhẹ vào năm 2016, GDP giảm 1,4% trong năm 2017. Sau hai năm tăng trưởng kinh tế 2018 và 2019, GDP lại giảm 1,8% vào năm 2020 do Covid- 19.
Hàn Quốc là quốc gia RCEP lớn thứ ba tính theo GDP. Quốc gia này được xem là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Theo Ngân hàng Thế giới, tăng trưởng GDP thực tế của Hàn Quốc đạt mức trung bình 5,5% trong giai đoạn từ 1988 đến năm 2019, được thúc đẩy bởi tăng trưởng xuất khẩu hàng năm trung bình đạt 9,3% trong cùng giai đoạn này.
Singapore có GDP bình quân đầu người cao nhất so với tất cả các quốc gia được phân tích với 59.798 USD vào năm 2020. Singapore được biết đến là một trong những nền kinh tế tiến bộ và thân thiện với doanh nghiệp nhất thế giới do các chính sách tiền tệ và tài khóa hợp lý và sự ổn định chính trị. Trong năm 2022, Singapore đứng đầu trong Chỉ số Tự do Kinh tế của Tổ chức Di sản.
Úc ghi nhận mức GDP bình quân đầu người cao thứ hai trong số các thành viên RCEP vào năm 2020 với 51.693 USD. Nền kinh tế linh hoạt của Úc, cùng với sự gần gũi với thị trường châu Á khiến nước này trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Theo số liệu từ OECD, quá trình phục hồi của Úc sau Covid đang diễn ra tốt đẹp. GDP thực tế được dự báo sẽ tăng 3,8% vào năm 2021, 4,1% vào năm 2022 và 3% vào năm 2023.
New Zealand có mức tăng dân số cao nhất trong tất cả các nước được phân tích là 2,1% vào năm 2020. Điều này có thể là do gia tăng tự nhiên cũng như di cư quốc tế. Nền kinh tế nhanh chóng phục hồi từ Covid-19 nhờ các biện pháp khóa cửa nghiêm ngặt và hỗ trợ việc làm và thu nhập. GDP của New Zealand dự kiến sẽ tăng 4,7% vào năm 2021, 3,9% vào năm 2022 và 2,5% vào năm 2023.
Lào có tỷ lệ lạm phát cao nhất trong số các thành viên RCEP vào năm 2020, với mức 5,1%. Lạm phát gia tăng được cho là do chi phí nhiên liệu tăng cao cũng như sự mất giá của đồng tiền Lào, đồng kip. Trong nỗ lực thúc đẩy gia tăng năng suất, chính phủ đã quyết định cắt giảm thuế VAT từ 10% xuống 7% vào năm 2022.
Việt Nam, quốc gia có tỉ lệ lạm phát ở mức 3,2% vào năm 2020 do giá thực phẩm, chi phí y tế và học phí tăng. Xu hướng này có vẻ sẽ tiếp tục diễn ra vào năm 2022 do giá nhiên liệu toàn cầu tăng. Chính phủ đang xem xét gia tăng nhập khẩu, giảm thuế và hỗ trợ thêm từ dự trữ quốc gia để xoa dịu tình hình.
Brunei là nền kinh tế nhỏ nhất trong số các thành viên RCEP, đạt 12 tỷ USD vào năm 2020. Quốc gia này phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực dầu khí, chiếm 90% doanh thu của chính phủ, 90% xuất khẩu và hơn một nửa GDP. Ngoài ra, quốc gia này có năng lực sản xuất hạn chế và phụ thuộc vào nhập khẩu đối với hầu hết các mặt hàng sản xuất và thực phẩm.
Trung Quốc, Úc và Singapore dẫn đầu về FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên khắp các nước RCEP đã giảm đáng kể do ảnh hưởng từ Covid-19. Nhìn chung, số dự án FDI giảm 38,9% trong giai đoạn 2019-2020.
Trung Quốc là nước nhận FDI lớn nhất trong số tất cả các nước được phân tích. Quốc gia này nhận được 412 dự án FDI vào năm 2020, chiếm 22,3% vốn FDI vào RCEP trong năm này. Tuy nhiên, con số này chưa bằng một nửa số dự án FDI mà Trung Quốc nhận được trong năm 2019 (835 dự án).
Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất, CNTT, bất động sản và dịch vụ kinh doanh. Các dự án lớn gần đây bao gồm việc mở rộng 3,2 tỷ USD của gã khổng lồ xe hơi có trụ sở tại Đức, BMW ở Tiexi và nhà máy sản xuất động cơ Nidec có trụ sở tại Nhật Bản với kế hoạch trị giá 921 tỷ USD ở Đại Liên.
Từ năm 2003 đến 2015, Trung Quốc liên tục nhận được hơn 1.000 dự án FDI mỗi năm. Tuy nhiên, vào năm 2014, số lượng dự án FDI bắt đầu sụt giảm dần cho đến năm 2017. Trong năm 2018, số dự án đầu tư tăng, và sau đó sụt giảm vào năm 2019 và giảm một nửa vào năm 2020 do Covid-19.
Các chuyên gia cảnh báo rằng mức vốn FDI cao mà Trung Quốc trước đây nhận được đã không còn bền vững do các công ty trong nước trở nên nổi bật hơn và cạnh tranh gia tăng. Ngoài ra, căng thẳng gia tăng với Mỹ cũng có thể ảnh hưởng đến sức hấp dẫn đầu tư của Trung Quốc.
Úc đã thu hút 321 dự án FDI vào năm 2020, mức cao thứ hai trong số tất cả các quốc gia được phân tích. Số dự án đầu tư vào Úc tăng 7,6% trong giai đoạn 2016 - 2018 trước khi giảm 1,1% vào năm 2019 và giảm 25,9% vào năm 2020.
Theo số liệu của Austrade, Cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia của Úc, cứ mười người làm việc ở Úc thì có một người được hỗ trợ bởi FDI, chiếm 1,2 triệu người. Các doanh nghiệp FDI ở Úc nắm giữ tài sản 2,7 triệu USD, xấp xỉ 1/4 tài sản tổng thể của Úc. Ngoài ra, FDI cũng đã góp phần tạo ra 2/5 xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của đất nước.
Singapore nhận được số lượng dự án FDI lớn thứ ba trong số các thành viên RCEP. Cho đến nay, quốc gia này cũng là điểm đến hấp dẫn đầu tư hàng đầu, với tỉ lệ FDI đạt 5,3 dự án trên 100.000 dân. Vượt xa đáng kể so với quốc gia đứng kế sau là New Zealand, với 1,3 dự án trên 100.000 dân.
Các ngành công nghiệp trọng điểm để đầu tư bao gồm hàng không vũ trụ, điện tử và dược phẩm. Singapore cũng là một địa điểm cho các công ty đa quốc gia (MNCs) đặt trụ sở chính trong khu vực. Theo số liệu của Ủy ban Phát triển Kinh tế Singapore, 46% các trụ sở chính ở khu vực châu Á đều nằm tại đất nước này. Hơn nữa, 59% các MNCs công nghệ có trụ sở chính tại khu vực châu Á có trụ sở tại Singapore.
Indonesia là quốc gia thu hút vốn đầu tư liên quan đến FDI cao thứ hai, sau Trung Quốc. Bất chấp tác động kinh tế của Covid-19, giá trị các dự án FDI tại nước này đã tăng từ 12 tỷ USD vào năm 2019 lên 20,2 tỷ USD vào năm 2020.
Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới đang thắt chặt các quy định về FDI, thì Indonesia là một trong số ít quốc gia đang nới lỏng các cơ chế sàng lọc. Vào tháng 7 năm 2021, chính phủ đã sửa đổi danh sách các lĩnh vực bị cấm FDI bằng cách mở cửa các ngành công nghiệp viễn thông, xây dựng, phân phối và ngành khoan cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Malaysia được vinh danh là quốc gia mới nổi tốt nhất ở Đông Nam Á về mức độ thu hút FDI trong công bố Chỉ số Cơ hội Toàn cầu của Viện Milken vào tháng 1/2022. Quốc gia này được ghi nhận vì nỗ lực giảm bớt các hạn chế FDI và đưa ra các chính sách để tạo thuận lợi cho thương mại. Malaysia đã thu hút 100 dự án FDI vào năm 2020 trên các lĩnh vực bao gồm du lịch, hậu cần và điện tử.
Brunei có mức tăng tỷ lệ phần trăm lớn nhất về giá trị các dự án FDI trong năm 2020. Vào tháng 9/2020, nhà sản xuất sản phẩm sợi hóa học Hengyi, có trụ sở tại Trung Quốc đã công bố kế hoạch đầu tư 13,7 tỷ USD để mở rộng khu liên hợp lọc hóa dầu ở Palau Muara Besar. Trong khi đó, cả nước đã thu hút các dự án FDI với tổng trị giá 43,2 triệu USD vào năm 2019.
Tại Campuchia, giá trị dự án FDI chiếm 6,4% trong tổng GDP của đất nước vào năm 2020. Các quốc gia đầu tư hàng đầu vào Campuchia bao gồm có Singapore, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan,
Anh, Canada và Mỹ. Các lĩnh vực thu hút FDI chính bao gồm tài chính, sản xuất và bất động sản, nông nghiệp và xây dựng.
Philippines có số dự án FDI giảm phần trăm lớn nhất từ năm 2019 đến năm 2020. Các dự án FDI giảm 66,7%, từ 147 dự án xuống còn 49 dự án. Dòng vốn đầu tư bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự phun trào của Núi lửa Taal vào tháng 1 năm 2020 và sự lan rộng của Covid-19, dẫn đến sự gián đoạn nghiêm trọng trong các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, du lịch và xây dựng.
New Zealand là quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới
New Zealand là quốc gia đứng đầu trong ấn bản Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2021 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế trong năm thứ ba liên tiếp. Nước này đạt 88/100 điểm, cùng với Đan Mạch và Phần Lan.
New Zealand là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và mang lại cho các nhà đầu tư sự ổn định chính trị cũng như môi trường kinh doanh minh bạch và cởi mở. Đặc biệt, trung bình chỉ mất nửa ngày để có thể bắt đầu kinh doanh ở New Zealand - thời gian ngắn nhất so với tất cả các thành viên trong RCEP.
Hàn Quốc là trung tâm đổi mới sáng tạo toàn cầu và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số phát triển tốt khiến nước này trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Quốc gia này có số lượng đăng ký băng thông rộng cao nhất trên với 43,6/100 người vào năm 2020 và tỷ lệ cá nhân sử dụng Internet cao nhất (95,1% vào năm 2017).
Singapore có mức thuế doanh nghiệp thấp nhất trong số các quốc gia được phân tích là 17%. Đất nước này có một mạng lưới các hiệp ước thuế với hơn 85 quốc gia. Thông qua chế độ thuế của mình, Singapore hướng đến mục tiêu kích thích các hoạt động kinh tế và đảm bảo tăng trưởng lâu dài, bền vững. Singapore cũng cung cấp cho các nhà đầu tư sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Myanmar có tỷ lệ tiếp cận điện năng thấp nhất trong tất cả các quốc gia RCEP được phân tích, với 68,4% vào năm 2019. Quốc gia này là một trong những quốc gia nghèo nhất ở Đông Nam Á sau nhiều thập kỷ cai trị của quân đội từ năm 1962 đến năm 2011. Sau mười năm bán dân chủ, quân đội đã bác bỏ kết quả của cuộc bầu cử dân chủ lần thứ hai của đất nước và giành lại quyền kiểm soát vào tháng 2 năm 2021. Vào tháng 2 năm 2022, Tổ chức Lao động Quốc tế cảnh báo rằng Myanmar đang trên bờ vực suy sụp kinh tế và đối mặt với một cuộc khủng hoảng nhân đạo.
Lào có số lượng đăng ký băng thông rộng thấp nhất trong các nước thành viên RCEP là 1,1 trên 100 người vào năm 2019. Trung bình, mất nhiều thời gian để thành lập một doanh nghiệp ở Lào so với tất cả các nước thành viên RCEP khác, với 173 ngày.
Quốc gia RCEP nào đáng sống?
Nhật Bản là một trong những quốc gia có kỳ vọng sống cao nhất trên thế giới và cao nhất trong số các quốc gia RCEP với 84,4 năm. Mặc dù đây là một minh chứng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân được đánh giá cao của đất nước, nhưng nó cũng đặt ra những thách thức về kinh tế. Nhật Bản có tỷ lệ phụ thuộc vào độ tuổi - tỷ lệ phụ thuộc trên dân số trong độ tuổi lao động - cao nhất trong tất cả các quốc gia được phân tích là 69,1%.
Năm 2019, tổng tỷ lệ nhập học đại học ở Úc là 116%, cao nhất trong số các quốc gia được phân tích. Úc được hưởng lợi từ một trong những lực lượng lao động đa dạng, có tay nghề cao và đa ngôn ngữ trên thế giới. Theo Chỉ số Thu hút Nhân tài của OECD, Úc là quốc gia trong khối OECD tốt nhất về mức độ thu hút nhân tài đối với những người lao động có trình độ học vấn cao.
Campuchia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong số các quốc gia được phân tích, với 0,3% vào năm 2020. Con số này có thể là do phần lớn dân số lao động của Campuchia làm việc trong khu vực phi chính thức, nơi mức lương thường thấp và không được kiểm soát.
Thái Lan cũng có tỷ lệ thất nghiệp tương đối thấp (1% vào năm 2020). Tuy nhiên, định nghĩa về thất nghiệp của nước này rất hạn chế và chỉ coi những người không làm việc một giờ mỗi tuần là thất nghiệp. Nó cũng không bao gồm doanh nghiệp hoặc chủ trang trại.
Myanmar có tuổi thọ thấp nhất trong số các nước RCEP. Tuổi thọ trung bình năm 2020 là 67,1 tuổi. Cuộc đảo chính quân sự vào tháng 2 năm 2021 và Covid-19 đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Myanmar và phúc lợi của người dân.
Ngân hàng Thế giới dự đoán GDP của Myanmar sẽ giảm khoảng 18% vào năm 2021, điều này có thể làm mất đi một triệu việc làm. Số người sống trong cảnh nghèo đói cũng có khả năng tăng hơn gấp đôi vào đầu năm 2022, so với năm 2019.
Lào và New Zealand là những nền kinh tế xanh nhất của RCEP
Trung Quốc là nước gây ô nhiễm lớn, chiếm gần 75% lượng khí thải carbon của tất cả các nước được phân tích. Theo nghiên cứu của Rhodium Group, quốc gia này thải ra nhiều khí nhà kính hơn toàn bộ các nước phát triển cộng lại, chiếm 27% lượng khí nhà kính toàn cầu vào năm 2019. Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết rằng Trung Quốc sẽ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2060 với cao điểm không muộn hơn năm 2030.
Các nguồn năng lượng tái tạo chiếm gần 97% tổng năng lượng của Lào vào năm 2018. Nguồn năng lượng lớn nhất của quốc gia này là thủy điện, sau đó là năng lượng sinh học. Năm 2011, Lào đưa ra Chiến lược Phát triển Năng lượng Tái tạo, nhằm phát triển các nguồn năng lượng tái tạo mới mà nước này chưa được khai thác rộng rãi, bao gồm năng lượng mặt trời và năng lượng gió.
Hơn 3/4 lượng điện được tạo ra ở New Zealand trong năm 2018 được lấy từ các nguồn năng lượng tái tạo, chủ yếu là thủy điện. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ tạo ra 90% điện năng từ các nguồn tái tạo.
Hơn 99,9% hỗn hợp năng lượng của Brunei đến từ nhiên liệu hóa thạch. Chính phủ thừa nhận rằng sự phụ thuộc quá mức vào dầu khí là không bền vững trong dài hạn. Do đó, đất nước đặt mục tiêu tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo chiếm 30% sản lượng điện của Brunei vào năm 2035.
Singapore cũng phụ thuộc rất nhiều vào nhiên liệu hóa thạch, chiếm 98,6% tổng năng lượng của nước này vào năm 2018. Chính quyền thành phố đã phải đối mặt với một số khó khăn khi cố gắng chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Các nhà phát triển nhận thấy rằng không có đủ không gian cho các nhà máy năng lượng mặt trời lớn, không có sông lớn để lắp đặt các công trình thủy điện và tốc độ gió quá thấp để cung cấp năng lượng cho các tuabin. Do đó, Singapore đã chuyển sang sử dụng các trang trại năng lượng mặt trời nổi và các tấm pin thẳng đứng để tăng nguồn cung cấp năng lượng sạch.
Nguồn: Investment Monitor
Từ khóa: RCEP, năng lượng tái tạo, bền vững, thu hút đầu tư, chính sách






















