
Hai doanh nhân Hoa Kỳ Dan Digre và Ben Zhang, mặc dù sống cách xa nhau nhưng đang có cùng mối bận tâm về vấn đề thuế quan áp lên hàng nhập khẩu xứ Trung.
Digre, giám đốc điều hành công ty sản xuất loa Misco Speakers tại Minnesota, trước việc phải trả thuế cao đối với linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc, đã thuê một luật sư nhằm giúp giải quyết gánh nặng thuế quan
Ở một khu vực khác của xứ cờ hoa, tại Seattle, Zang, nhà sáng lập công ty Greater Pacific Industries đang nỗ lực chuyển dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam nhằm tránh hàng rào thuế. Đồng thời, doanh chủ này cũng đang bày tỏ ý định khởi kiện chính phủ liên quan dến vấn đề áp thuế.
Nỗ lực của hai doanh nhân vừa nêu đã làm nổi bật sự căng thẳng kéo dài của các công ty Mỹ trong tiến trình bảo vệ hoạt động kinh doanh trước cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ - Trung Quốc – vốn chưa có dấu hiệu kết thúc
Tổng thống Joe Biden cho biết ông chưa có ý định xóa bỏ rào cản thuế được áp đặt dưới thời cựu Tổng thống Trump với lý do Trung Quốc đã không thực thi đầy đủ các cam kết về mua hàng Mỹ theo như thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 giữa 2 quốc gia.
Chính quyền xứ cờ hoa dự kiến công bố dữ liệu thương mại 2021 vào ngày thứ Ba tuần này, theo đó, các phân tích được nhìn nhận sẽ cho thấy Trung Quốc đã không thực hiện đúng những cam kết về mua hàng nông sản, công nghiệp, năng lượng và dịch vụ từ các nhà sản xuất Mỹ.
Đối thoại thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới hiện đang ngừng trệ vào thời điểm hạn thực thi thỏa thuận song phương đã kết thức
Kết quả là, nhiều doanh nghiệp xứ cờ hoa vốn dựa nhiều vào hàng nhập từ Trung Quốc đã không còn niềm tin vào các giải pháp của chính quyền Mỹ trong ngắn hạn.
“Các chính trị gia không muốn nhẹ nhàng với xứ Trung. Đây là thực sự là bước đi chính trị đầy rủi ro” – ông Digre nói, đồng thời nhấn mạnh rằng đang có sự đồng thuận lưỡng đảng về vấn đề áp thuế.
Hiện doanh chủ Digre đang phải trả mức thuế 25% đối với mỗi linh kiện nhập khẩu từ quốc gia hơn 1 tỷ dân trong suốt 3 năm qua.
Tuy nhiên, với chi phí sản xuất tăng cao, đặc biệt do yếu tố lạm phát – hiện đang ở mức cao nhất trong hàng thập kỷ qua, ông Digre đã thuê luật sư nhằm giúp đưa sản phẩm của mình vào danh sách miễn thuế nhập khẩu theo chương trình Hài hòa hóa hệ thống thuế.
Trung Quốc hiện là là cung ứng linh kiện loa đứng đầu thế giới do nước này sỡ hữu nguồn cung nam châm rất lớn.
Sau khi Hoa Kỳ áp thuế nhập khẩu, một vài doanh nghiệp Mỹ đã bắt đầu chuyển dây chuyền lắp ráp sang Việt Nam và Philippine. Tuy nhiên, việc chuyển hướng sản xuất về lại chính nước Mỹ lại là câu chuyện hoàn toàn khác, chủ yếu liên quan đến giá cả - ông Digre nhận định
Nhiều công ty phàn nàn rằng họ đang chật vật để tìm kiếm đủ nhân công cho nhà máy tại Hoa Kỳ - những người sẵn sàng làm những công việc nhàm chán với yêu cầu cao về cường độ
Các sản phẩm của doanh nhân Zhang cũng đang bị áp thuế với mức 25%. Với thực tế là những hàng hóa này sẽ là thành phần trong chuỗi sản xuất của nhiều tập đoàn lớn như Microsoft và Google, do vậy khi giá thành linh kiện tăng, vị này cũng buộc phải tăng giá thành cung ứng.
“Các nhà nhập khẩu đang phải trả thuế cao và thực chất, người hưởng lợi không ai khác chính là Bộ Tài chính Hoa Kỳ” – theo lời ông Zhang.
Trong thời gian phối hợp với công ty dịch vụ tài chính Capital One thực hiện một dự án chung vào thời điểm Giáng sinh, ông Zhang bắt đầu tìm cách tránh hàng rào thuế quan thông qua việc chuyển dây chuyền sản xuất sang Việt Nam. Tuy nhiên, theo ông, cách thức này không hiệu quả.
“Đây thực sự là một cơn ác mộng. Đã 6 tháng kể từ ngày chuyển đặt hàng sang Việt Nam, tuy nhiên, đến thời điểm này, đơn hàng vẫn chưa hoàn thành do vấn đề đứt gãy chuỗi cung ứng. Việt Nam không phát triển như Trung Quốc và do vậy mọi việc đều trở nên chậm trễ” – giám đốc Zhang nhận định.
Đại dịch đã buộc doanh nghiệp gia công sản phẩm cho ông Zhang tại TP. Hồ Chí Minh phải đóng cửa trong vòng 2 tháng. Sau khi hoạt động trở lại, công nhân không muốn trở lại nhà máy, nghiêm trọng hơn, chủ doanh nghiệp cũng không thể liên lạc được.
Cuối cùng, ông Zhang buộc phải cử nhân viên từ Hoa Kỳ đến Việt Nam để đốc thúc hoạt động sản xuất.
Bên cạnh đó, rào cản ngôn ngữ cũng là lý do gây phức tạp thêm quá trình chế tạo sản phẩm.
Một phần doanh thu từ hoạt động kinh doanh của ông Zhang đến từ việc nhập khẩu các thiết bị cần thiết cho nhiều sự kiện quảng cáo mang tính đặc thù – vốn luôn có yêu cầu chặt chẽ về thời hạn giao hàng.
“Chúng tôi phải từ chối hàng loạt đơn hàng vì không thể đáp ứng đúng thời hạn giao hàng” – ông Zhang cho biết
Giám đốc Zhang trước đây đã khởi kiện chính phủ Mỹ nhằm giúp doanh nghiệp của mình được miễn thuế đối với hoạt động nhập khẩu, tuy nhiên vụ kiện này đã không thành công. Giờ đây với vụ kiện mới nhất, ông hy vọng khi chứng minh được chính sách áp thuế của chính quyền là vi hiến, khoản tiền thuế đã đóng có thể được hoàn trả lại cho công ty.
Cách tiếp cận thực tế hơn chính là mong đợi một vị Tổng thống mới với tầm nhìn khác biệt, sẵn sang đàm phán với nền kinh tế số 2 thế giới nhằm giải quyết những quan ngại song phương – ông Zhang nói.
Đại diện thương mại Mỹ (USTR) vào tháng 10 đã tiến hành lấy ý kiến công chúng về việc rút 549 loại sản phẩm khỏi danh sách bị đánh thuế nhập khẩu sau khi thời hạn miễn thuế kết thúc vào năm ngoái.
Một vài mặt hàng dược cùng nhiều loại đồng hồ thông minh nằm trong sách những sản phẩm được miễn thuế vào năm 2020. Tuy nhiên, quá trình miễn đánh thuế chỉ kéo dài 1 năm,
Theo Hội đồng Kinh doanh Trung-Mỹ, các chính trị gia Hoa Kỳ không phản đối chính sách áp thuế là bởi tâm lý chống Trung Quốc đang thịnh hành tại Washington, theo đó, duy trì tâm thế đối đầu sẽ mang đến nhiều lợi ích hơn sự chú tâm đến những thiệt hại giới doanh chủ đang gánh chịu.
The council said exemptions should be broadened if the Biden administration does not want to lift punitive tariffs on Chinese imports.
Hội đồng này cũng đề xuất mở rộng danh sách miễn thuế nếu chính quyền Biden muốn duy trì áp thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.
“Nhiều doanh nghiệp đang bực bội với quy trình xét duyệt miễn thuế (HTS) trong bối cảnh nhiều bộ hồ sơ xin miễn thuế bị từ chối mà không rõ lý do. Hơn thế vào thời điểm an ninh đang trở thành chủ đề tranh chấp chính trong quan hệ song phương, thương mại không còn là yếu tố trọng yếu trong liên kết Mỹ-Trung.
Quá trình xin miễn áp thuế sẽ thuận lợi hơn nếu 1 công ty chứng minh được hoạt động của họ đang tạo ra việc làm tại Hoa Kỳ.
Khi thuế nhập khẩu bắt đầu áp dụng, nhiều nhà xuất khẩu xứ Trung đã chấp thuận chia sẻ chi phí phụ trội với các công ty Hoa Kỳ. Tuy nhiên khi tranh chấp thương mại kéo dài, các doanh nghiệp Trung Quốc chấm dứt hỗ trợ. Kết quả là, giá bán buôn và bán lẻ tại xứ cờ hoa gia tăng, gây áp lực lạm phát.
Allen Shi, chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất Trung Quốc tại Hong Kong nhận định các công ty Mỹ hiện tại đang một mình gánh chịu áp lực thuế quan trong khi đó nhiều doanh nghiệp tại đại lục không còn quan tâm nhiều đến thị trường xứ cờ hoa.
Tuy vậy, ông cho rằng thương chiến giằng co lâu dài “không mang lại lợi ích cho bất kỳ ai”.
“Chúng tôi mong Trung Quốc và Hoa Kỳ có thể làm việc cùng nhau. Với tư cách doanh chủ, chúng tôi không muốn chính trị chi phối quá nhiều đến hoạt động thương mại”.
Bộ Thương mại Trung Quốc tiếp tục kêu gọi xứ cờ hoa bãi bỏ thuế nhập khẩu, thậm chí, một số chuyên gia nhận định quốc gia hơn 1 tỷ dân có thể tận dụng vị thế độc tôn trong chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm gây sức ép lên Washington.
Tuy nhiên, không phải tất cả người dân Mỹ đều muốn chính quyền giảm áp lực lên Trung Quốc.
Một cuộc khảo sát bởi Hội đồng Chicago về Các vấn đề toàn cầu vào tháng 12 cho thấy 58% người dân nghĩ rằng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã làm suy yếu an ninh quốc gia, tăng từ mức 38% 2 năm trước đây.
Phần lớn người Mỹ coi Trung Quốc như một mối đe dọa về kinh tế (67%), ngược lại, chỉ 30% dân số Hoa Kỳ coi đất nước tỷ dân như đối tác thương mại, đầu tư. Rộng hơn, hầu hết dân Mỹ coi xứ Trung như một đối thủ hoặc kẻ thù – khảo sát nhận định.
Khi được hỏi về thuế đánh lên sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc, khảo sát cho thấy 62% người Mỹ ủng hộ tăng thuế, tăng so với mức 55% năm 2020.
Bên cạnh đó, gần 57% dân số cũng cho biết Washington nên giảm quan hệ thương mại với Trung Quốc, ngay cả khi điều này có thể gây tăng chi phí đối với người tiêu dùng.
Ông Digre cũng nói chính những thông tin sai lệch do cựu Tổng thống Trump cung cấp cũng khiến người dân xứ cờ hoa tin rằng Trung Quốc mới chính là bên phải gánh chịu thuế quan thay vì doanh nghiêp và người tiêu dùng Mỹ.
Khi quyết định áp thuế, ông Trump khẳng định chính Trung Hoa sẽ là bên chịu thiệt. Nhiều nghiên cứu sau đó chỉ ra đây hoàn toàn là nhận định lầm lạc. Vậy nhưng, về tổng thể, hàng hóa nhập khẩu từ xứ Trung, do vấn đề thuế quan thực chất đã suy giảm nhanh chóng.
Alexander Hitch, phó giáo sư tại Hội đồng Chicago về Các vấn đề toàn cầu cho biết thuế suất nhập khẩu có thể thay đổi, tuy nhiên dường như chính quyển Biden cho thấy họ sẽ không sẵn sàng giảm thuế.
“Trong bối cảnh quan điểm của dân chúng Mỹ đối với quan hệ giao thương Mỹ-Trung đang rất tiêu cực, đường hướng sắp tới của Tổng thống Biden trong bang giao thương mại song phương được dự báo sẽ tương đồng với chính quyền tiền nhiệm. Chính quyền Tổng thống Biden gần đây thông báo về một số kết quả sau quá trình rà soát toàn diện quan hệ thương mại Mỹ-Trung, dấu hiệu cho thấy sự chuyển hướng chính sách tập trung vào vấn đề thực thi của Trung Hoa trên cơ sở thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 giữa hai bên, hợp tác và tham vấn giữa Mỹ với các đối tác nhằm phản đối các hành vi phi giao thương, cũng như đánh giá lại Điều khoản 301 về an ninh quốc gia, hướng đến dỡ bỏ hàng rào thuế” – ông nhận định.
Nguồn: SCMP
Từ khóa: Trung Quốc, Hoa Kỳ, thuế quan, thương mại






















