JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnTrong tranh chấp vị thế thống trị kinh tế tại Á châu, thương mại tự do đóng vai trò trọng yếu

Trong tranh chấp vị thế thống trị kinh tế tại Á châu, thương mại tự do đóng vai trò trọng yếu

chuoicungungtoancau

Vào thời điểm biên giới và nhận thức đang ngày càng trở nên bó buộc, thật khó khăn để cũng cố ý thức tự do thương mại, qua đó xác định vai trò lãnh đạo của các quốc gia tại châu Á Thái Bình Dương – khu vực năng động nhất thế giới, tâm điểm của cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung, đồng thời cũng là châu lục đang chịu thiệt hại nặng nề sau 2 năm đại dịch bùng phát. Các cường quốc thuộc Ấn Độ - Thái Bình Dương chỉ có thể hình thành một trật tự kinh tế phù hợp với lợi ích của toàn lục địa với điều kiện để các quốc gia thuộc châu lục tiếp tục duy trì sức sống, thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo hệ thống quy tắc chung – vốn là cơ sở để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế toàn cầu, cũng như hỗ trợ mở cửa tự do, qua đó tăng cường sức cạnh tranh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp cùng hàng loạt thử thách ngoại sinh. Do vậy, ngay cả khi một số hành động tưởng chừng chỉ mang tính lợi ích hẹp hòi tương tự như việc dẫn đầu nỗ lực cung ứng hàng hóa thiết yếu giúp cộng đồng vượt qua đại dịch cũng có thể được coi là điểm cộng trong cuộc đua giành vị thế thống trị tại châu Á – hiện vẫn đang hết sức gay cấn.

Nền tảng cho cấu trúc kinh tế tại Á châu đang chuyển động nhanh chóng. Yếu tố thiết yếu thúc đẩy sự phát triển tại khu vực chính là tính kết nối. Hiệp định thương mại lớn nhất thế giới – Thỏa thuận Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), với 15 thành viên chiếm đến 1/3 tổng GDP toàn thế giới được dự báo sẽ giúp xóa bỏ hàng rào thuế quan xuyên biên giới. Điểm đặc biệt của hiệp định này chính là hệ thống các cam kết đảm bảo chuỗi cung ứng trên nền tảng quy định mềm dẻo về quy tắc xuất xứ cộng gộp. Có thể nói, trao đổi thương mại nội khối và gắn kết giao thương với Trung Quốc, thông qua RCEP, đang ngày càng trở nên chặt chẽ.

Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một ví dụ khác về tính rộng mở trong hoạt động thương mại. Đây là thỏa thuận với yêu cầu kết nạp rất cao, duy trì cam kết mạnh mễ về cắt giảm thuế quan, kiểm soát chặt chẽ việc thực thi các cam kết chung, đồng thời đòi hỏi sự đồng thuận của tất cả thành viên khi áp dụng hiệp định trên thực tế. Mặc dù đặt ra những yếu cầu chặt chẽ như đã nêu, số lượng quốc gia xin gia nhập đang ngày càng tăng, gồm cả Anh quốc, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các thỏa thuận giao thương trong một số lĩnh vực cụ thể cũng đang chứng kiến nhều chuyển biến đáng chú ý. Chuyển đổi số tại nhiều nền kinh tế được thúc đẩy bởi sự phát triển công nghệ và đại dịch COVID-19 đã khiến vai trò của những thỏa thuận về giao thương điện tử ngày càng quan trọng, tạo lập cơ sở cho dòng chảy dữ liệu dịch chuyển dễ dàng đồng thời duy trì đảm bảo an toàn thông tin cá nhân. Theo đó, Thỏa thuận đối tác kinh tế số được khởi xướng bởi Singapore, Chile và New Zealand vào năm 2020 đang thu hút sự chú ý của cả Hàn Quốc và Trung Quốc.

Tuy nhiên, thật đáng tiếc, Hoa Kỳ không tham bất kỳ thỏa thuận cấp khu vực, liên khu vực nào như đã nêu. Thay vào đó, chính quyền Biden lại hứa hẹn một khung pháp lý kinh tế trong tương lai bao gồm hàng loạt lĩnh vực như tạo thuận lợi thương mại, tăng cường chuỗi cung ứng, hợp tác về kinh tế số, giảm thiểu các-bon, phát triển cơ sở hạ tầng và đảm bảo tiêu chuẩn lao động. Như vậy, trụ cột chính sách của Nhà Trắng hiện tại thiếu vắng một thành tố quan trọng: tiếp cận thị trường. Không có bất kỳ đề xuất nào hướng đến việc đưa Hoa Kỳ quay trở lại CPTPP, khơi gợi khả năng hình thành những thỏa thuận mới, hoặc khuyến khích thiết lập một hiệp định toàn diện về hoạt động số. Có thể nói, chính quyền Mỹ đã thất bại trong việc mang đến khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương yếu tố họ cần nhất vào thời điểm hiện tại: tự do thương mại ở cấp độ sâu rộng, qua đó hạn chế những biến chuyển không mong muốn trong nội bộ chính phủ Hoa Kỳ đồng thời thúc đẩy phục hồi sau đại dịch. Vì vậy, các cuộc thảo luận kinh tế không mang tính ràng buộc như đề xuất từ phía Mỹ sẽ chỉ càng làm giảm vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ tại khu vực.

Ngược lại, chính sách ngoại giao kinh tế của Trung Quốc lại đối lập hoàn toàn; nền kinh tế số 2 thế giới đẩy mạnh ký kết các thỏa thuận giao thương quy mô lớn nhằm tạo lập một thể chế kinh tế mới từ bên trong. Tuy nhiên, về bản chất, quốc gia hơn 1 tỷ dân không phải là một hình mẫu hoàn hảo về cởi mở kinh tế; nước này chủ trương thúc đẩy toàn cầu hóa có chọn lọc, hủy hoại hệ thống quy quy tắc giao thương xuyên biên giới thông qua hàng loạt hành vi cưỡng ép kinh tế. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng chủ trương theo đuổi tự chủ về công nghệ bằng việc thúc đầy trợ cấp, siết chặt quy định pháp lý nhắm vào các doanh nghiệp nhà nước, cũng như theo đuổi bảo hộ số một cách cực đoan, Với viễn cảnh Trung Quốc nộp đơn gia nhập CPTPP, yêu cầu đổi mới đối với nước này với bối cảnh hiện tại không giảm đi mà ngày càng cấp thiết. Chiến lược kết nối của xứ Trung với tên gọi Sáng kiến Vành đai và con đường đã giúp Bắc Kinh ghi điểm về ngoại giao, tuy nhiên chính việc theo đuổi những lợi ích riêng, lạm dụng bẫy nợ đã khiến vai trò lãnh đạo của Trung Quốc bị hoen ố. Sử dụng tiếp cận thị trường như một công cụ để tạo ảnh hưởng chính trị là cách thức giới lãnh đạo xứ Trung thường hay sử dụng. Cưỡng ép kinh tế có thể mang đến những lợi ích tức thì cho nền kinh tế lớn nhất châu Á nhưng sẽ kéo theo nhiều hệ quả tiêu cực về lâu dài. Có thể nói, việc Bắc Kinh gây sức ép sẽ khuyến khích nhiều nước lựa chọn con đường riêng, thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc (như việc Liên minh châu Âu dừng việc phê chuẩn thỏa thuận đầu tư với nền kinh tế lớn thứ 2 hành tinh hoặc các nước thúc đẩy liên kết an ninh ví dụ sự hình thành AUKUS – thỏa thuận hợp tác phát triển hạt nhân giữa ba nước Úc, Anh và Hoa Kỳ).

Trong một thế giới liên kết chặt chẽ, Nhật Bản có cơ hội đặc biệt để trở thành quốc gia dẫn dắt xu hướng kết nối an ninh kinh tế và liên kết thương mại. Tokyo có lịch sử lâu dài thúc đẩy liên kết khu vực thông qua việc tham gia các thỏa thuận thương mại, đầu tư cơ sở hạ tầng và xác lập các quy định về hoạt động số. Tuy nhiên, hiện tại, cộng đồng quốc tế đang ngập ngụa trong cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia, đồng thời, chia tách kinh tế đang là nguồn cơn cho cuộc đua bảo hộ công nghệ, cơ sở hạn tầng, tăng cường chuỗi cung ứng và khắc phục tình trạng thiếu hụt chíp bán dẫn. Vào thời điểm này, đất nước mặt trời mọc được nhìn nhận là quốc gia đi đầu bổ nhiệm một thành viên nội các có kinh nghiệm về an ninh kinh tế. Nước này cũng đang xúc tiến soạn thảo một dự luật toàn diện hướng đến thúc đẩy đảm bảo an toàn đầu tư và giao thương. Nhật Bản hiện đang sở hữu cơ hội mới cho việc vạch ranh giới giữa cổ vũ hợp tác liên lục địa và ngăn ngừa rủi ro; mối nguy hiện hữu chính là tái thiết lập các biện pháp kiểm soát an ninh nghiêm ngặt, từ đó ngăn trở dòng chảy thương mại và đầu tư

Tự do mở cửa đóng vai trò chủ chốt trong sự hồi sinh của Nhật Bản thông qua chuyển đổi số. Sự hưng thịnh trở lại của đất nước mặt trời mọc sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng đảo quốc thu hút nhân tài trong lĩnh vực số hóa. Các biên giới đóng sẽ là trở ngại chính đối với sự dịch chuyển lao động. Điều này được phản ánh rõ thông qua Xếp hạng cạnh tranh về chuyển đổi số thế giới do Viện nghiên cứu quốc tế về Quản lý phát triển tiến hành tại 3 quốc gia Trung Quốc, Nhật bản và Hoa Kỳ. Theo bảng xếp hạng, Mỹ dẫn đầu thế giới về khả năng thu hút sinh viên quốc tế và lao động có kỹ năng cao trong khi đó, Trung Quốc ở vị trí khá thấp trong vấn đề quốc tế hóa nguồn nhân lực. Điều đáng buồn là Nhật Bản, ở một số mặt, lại có thứ hạng thấp nhất trong 3 nước. Liên quan đến tiêu chí kinh nghiệm quốc tế của giới quản lý cấp cao và nhân sự có kỹ năng số, xứ phù tang xếp cuối trong số 64 nền kinh tế được khảo sát. So sánh giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng làm nổi bật khoảng cách lớn giữ hai cường quốc trong vấn đề thúc đẩy dòng chảy sinh viên quốc tế cũng như khả năng tận dụng nguồn nhân công nước ngoài có kỹ thuật cao. Mục tiêu quốc tế hóa các trường đại học cũng như tăng số sinh viên quốc tế tại Nhật đang gặp vô vàn thách thức từ đại dịch COVID-19. Trong hơn 2 năm qua, chính phủ Nhật đã áp dụng những biện pháp quản lý biên giới vô cùng chặt chẽ nhằm kiểm soát các biến chủng của vi-rút corona, thường xuyên trì hoãn việc cấp mới thị thực cho sinh viên nước ngoài. Có thể nói, việc kéo dài thời gian áp dụng những biện pháp kiểm soát biên giới sẽ là nhân tố chính khiến mối lo bi bỏ lại trong thời đại số của Nhật Bản ngày càng trầm trọng.

Đại dịch đã và đang dạy chúng ta một bài học giá trị đó là: các giải pháp toàn cầu sẽ luôn là yếu tố bắt buộc đối với các vấn đề quốc tế. Nếu phần lớn người dân tại những nước đang phát triển không được tiêm phòng, các biến thể mới của vi-rút sẽ tiếp tục xuất hiện, đe dọa cuộc sống của nhân loại. Tiếc thay, mục tiêu phân bổ đồng đều 11 tỷ liều vắc-xin theo mong muốn của Tổ chức Y tế thế giới nhằm chấm dứt dịch bệnh vẫn là điều viễn tưởng. Trong lúc Trung Quốc vẫn mạnh miệng khoe khoang mình là quốc gia cung cấp lượng vắc-xin lớn nhất thế giới (1.59 tỷ liều), chỉ một phần nhỏ trong số đó được chuyển đến những quốc gia kém phát triển dưới dạng tặng cho. Vê phần mình, cả Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng cần cố gắng hơn trong chiến lược ngoại giao vắc-xin; hiện tại, hai quốc gia này mới chỉ hỗ trợ miễn phí cho các nước nghèo số lượng tương ứng với 318 triệu và 30 triệu liều.

Việc khôi phục sau đại dịch giới hạn tại biên giới mỗi quốc gia chỉ là phương án kém hiệu quả. Chính sự kết nối giữa các nước qua đó, hỗ trợ hồi phục, thúc đẩy tăng trưởng và xây dựng nền tảng phục hồi tại nội địa mới chính là cơ sở để các cường quốc khẳng đinh vai trò lãnh đạo kinh tế của mình. Như vậy, thước đo chính xác của một cường quốc dẫn dắt sau đại dịch chính là thái độ của họ đối với việc đóng cửa biên giới.

Nguồn: Brookings

Từ khóa: Hoa Kỳ, Trung Quốc, đại dịch, biên giới

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008794972
Go to top