
Thỏa thuận thương mại “giai đoạn 1” giữa Mỹ và Trung Quốc có hiệu lực vào ngày 14 tháng 2 năm 2020. Theo thỏa thuận, Trung Quốc đồng ý thực hiện cải cách cơ cấu, mở cửa các dịch vụ tài chính và tăng cường sở hữu trí tuệ. Trung Quốc cũng cam kết mua thêm hàng hóa và dịch vụ từ Mỹ, ít nhất 200 tỷ USD trong các năm 2020 và 2021.
Nhưng sau gần hai năm, đã phát sinh nhiều khiếu nại về việc Trung Quốc không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo cam kết đã ký. Theo một số thống kê, Trung Quốc mới chỉ đạt 62% mục tiêu, và nhiều câu hỏi đặt ra liên quan đến việc tuân thủ và thực thi thỏa thuận này.
Theo văn bản đã ký kết, Mỹ và Trung Quốc thống nhất cách tiếp cận đổi mới về tuân thủ và thực thi thỏa thuận, và được quy định chi tiết trong Chương 7. Thỏa thuận quy định thành lập Nhóm cơ chế thương mại để thảo luận về việc thực hiện cam kết, do Đại diện thương mại Mỹ và một Phó thủ tướng của Trung Quốc được chỉ định, cùng Văn phòng đánh giá và giải quyết tranh chấp song phương mỗi bên làm đại diện.
Trong một hiệp định thương mại điển hình, bên khiếu nại có thể gửi đơn khiếu nại đến Văn phòng đánh giá và giải quyết tranh chấp của bên bị khiếu nại khi có vấn đề phát sinh. Nếu vấn đề không được giải quyết, sẽ được đưa lên Phó Đại diện Thương mại Mỹ được chỉ định và Phó Thủ tướng Trung Quốc được chỉ định.
Nếu các vấn đề của bên khiếu nại không được giải quyết ở cấp Đại diện thương mại Mỹ và Phó thủ tướng của Trung Quốc được chỉ định, thì “các bên sẽ tham gia vào các cuộc tham vấn cấp tốc để giải quyết những thiệt hại hoặc mất mát mà bên khiếu nại phải gánh chịu”. Nếu các bên không đạt được sự đồng thuận, bên khiếu nại có thể đình chỉ nghĩa vụ theo Thỏa thuận hoặc áp dụng “một biện pháp xử lý theo cách tương xứng”.
Tuy nhiên, ngôn ngữ được sử dụng trong Thỏa thuận có thể tạo ra cách hiểu khác với mục tiêu kỳ vọng. Thay vì kỳ vọng đạt được các mục tiêu quản lý thương mại một cách hòa bình, ngôn ngữ được dùng trong thỏa thuận để giải quyết tranh chấp (như “một biện pháp xử lý theo cách tương xứng”) có thể dẫn đến leo thang căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Theo các điều khoản của Thỏa thuận, bên khiếu nại có quyền xác định xem có sự vi phạm thỏa thuận hay không, chứ không phải là Ban hội thẩm hay Tòa án độc lập xác định. Hơn nữa, Thỏa thuận cũng không nói rõ về các biện pháp xử lý mà bên khiếu nại có thể thực hiện và các biện pháp này có thể được thực hiện trong bao lâu.
Do đó, theo điều 7.4 của Thỏa thuận, Mỹ có quyền đơn phương xác định rằng Trung Quốc có vi phạm hay không, xác định thời hạn đình chỉ nhượng bộ và mức độ nghiêm trọng của việc đình chỉ này.
Vậy, liệu Mỹ có thực hiện các biện pháp đơn phương để thực thi Thỏa thuận giai đoạn 1 hay không? Theo Tuyên bố của các quan chức Mỹ cho thấy điều này có thể xảy ra; tuy nhiên cho đến nay, bằng chứng cho thấy việc thực thi theo thỏa thuận giai đoạn 1 có thể không xảy ra.
Khi Mỹ thực hiện một hành động, Trung Quốc có thể chấp nhận biện pháp xử lý - cùng với lời hứa không trả đũa - hoặc rút khỏi Thỏa thuận giai đoạn 1. Phương án rút khỏi Thỏa thuận giai đoạn 1 có thể gây ra nhiều thiệt hại hơn là thực hiện các biện pháp xử lý.
Từ góc độ kinh tế, bất kỳ mục tiêu nào đạt được theo Thỏa thuận đều tốt hơn là không có Thỏa thuận hoặc quay lại chiến tranh thương mại với Trung Quốc.
Từ góc độ địa chính trị, có rất ít cơ quan đủ quyền lực để buộc Trung Quốc tuân thủ các nghĩa vụ thương mại của mình. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang ở trong tình trạng tồi tệ, đặc biệt là Cơ quan Phúc thẩm - cơ quan có tiếng nói cuối cùng về các tranh chấp thương mại. Trong những năm qua, Cơ quan phúc thẩm đã thiết lập tiền lệ xét xử theo truyền thống một cách cứng nhắc. Vì vậy, đã bị Mỹ chỉ trích và cuối cùng dẫn đến việc ngăn chặn việc bổ nhiệm các thẩm phán của Cơ quan Phúc thẩm.
Các chuyên gia cũng nghi ngờ liệu Thỏa thuận giai đoạn 1 có hợp pháp theo các quy định của WTO hay không, vì nó cấm các biện pháp như hạn chế xuất khẩu tự nguyện song phương và các thỏa thuận hạn chế nhập khẩu một số sản phẩm nhất định.
Ngoài ra còn có câu hỏi liệu nội dung của thỏa thuận có hợp pháp hay không. Mục đích của thỏa thuận này là để quản lý thương mại thay vì khắc phục các vấn đề thị trường giữa Mỹ và Trung Quốc.
Một trong những cam kết chính trong Thỏa thuận là Trung Quốc có nhiều giao dịch thương mại hơn với Mỹ. Thỏa thuận giai đoạn 1 sẽ tạo ra sự chuyển hướng thương mại, theo đó hàng hóa Mỹ nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc thay thế hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác. Do đó, Mỹ và Trung Quốc thực hiện đúng định hướng để mà không gây khó chịu cho mối quan hệ của họ với các nước khác như Liên minh châu Âu, Brazil và Australia.
Điều khoản này của Thỏa thuận có thể được cho là do cựu tổng thống Mỹ - Donald Trump đã phán đoán sai các vấn đề thị trường giữa hai quốc gia này. Theo Trump, gốc rễ của các vấn đề thị trường giữa Mỹ và Trung Quốc là thâm hụt thương mại. Nhưng việc quản lý thương mại để cải thiện mối quan hệ kinh tế giữa hai nước là cách tiếp cận sai lầm.
Vì vậy, việc điều chỉnh và đàm phán lại Thỏa thuận giai đoạn 1 là lựa chọn hợp lý nhất trong ngắn hạn. Mặc dù có những sai sót trong một số điều khoản, có thể nói thương vụ này đã thành công nhất định. Cụ thể như Trung Quốc cam kết tăng cường thực thi các hành vi vi phạm luật sở hữu trí tuệ, dỡ bỏ các rào cản kỹ thuật đối với thương mại và mở rộng cơ hội đầu tư nước ngoài. Trung Quốc sẵn sàng tăng số lượng nhập khẩu từ Mỹ, điều này sẽ tăng quan hệ thương mại của 2 nước theo cam kết.
Washington nên cố gắng thiết lập lại quan hệ ngoại giao và các cuộc đàm phán để giảm bớt căng thẳng. Mỹ không chỉ được hưởng lợi từ việc các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Trung Quốc, mà thỏa thuận này sẽ cung cấp thêm cơ hội đầu tư của Mỹ trong tương lai và giúp giảm bớt tác động của cuộc chiến thương mại.
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: thỏa thuận giai đoạn 1, Trung- Mỹ






















