JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnDuy trì một nền kinh tế toàn cầu mở

Duy trì một nền kinh tế toàn cầu mở

Mô hình phát triển “vòng tuần hoàn kép” của Trung Quốc, được Chủ tịch Tập Cận Bình công bố vào tháng 8 năm 2020, gồm 2 vòng tuần hoàn trong đó thị trường trong nước và ngoài nước có sự hỗ trợ lẫn nhau, lấy vòng tuần hoàn trong nước là trụ cột chính.

61a40b61a310cdd3d81d48a3

Do thị trường tiêu dùng nội địa của Trung Quốc lớn hơn thị trường tiêu dùng của Mỹ, vì vậy cũng giống như Mỹ, Trung Quốc chọn “vòng tuần hoàn trong nước” là trọng tâm chính của nền kinh tế. Thông qua việc mở cửa với các thị trường còn lại của thế giới, nền kinh tế Trung Quốc sẽ được thay đổi phù hợp với lợi thế của nó và tăng cường sự cạnh tranh trên thị trường để giúp giảm bớt sự độc quyền về kinh tế trong nước.

Toàn cầu hóa kinh tế có khả năng làm cho các quốc gia tham gia trở nên tốt hơn vì mỗi nước sẽ có nhiều lựa chọn mở rộng hoặc duy trì nguyên trạng nền kinh tế của họ. Nếu bất kỳ quốc gia nào tự nguyện thay đổi với những gì họ đã làm trước đây, thì có thể sẽ tốt hơn cho họ. Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế cũng tạo ra kẻ thắng người thua ở mọi quốc gia.

Chủ sở hữu, nhân viên, nhà cung cấp dịch vụ và hàng hóa của các ngành công nghiệp xuất nhập khẩu là những người chiến thắng; trong khi đó các đối tác của họ trong các ngành công nghiệp trong nước có sản phẩm thay thế bằng hàng nhập khẩu và người tiêu dùng của nước xuất khẩu là những người thua cuộc.

Mặc dù toàn cầu hóa kinh tế tạo ra đầy đủ lợi nhuận ròng ở mỗi quốc gia; về nguyên tắc, mọi người đều có thể giàu có hơn, nhưng thị trường chỉ mang lại lợi ích cho những người chiến thắng còn người thua cuộc thì không.

Mỗi chính phủ có trách nhiệm bồi thường cho những người bị thiệt hại trong nước của mình, tuy nhiên hầu hết các quốc gia đã không đền bù thỏa đáng. Trung Quốc đã đảm bảo rằng tất cả mọi người đều nhận được lợi ích ở các mức độ khác nhau, thông qua mạng lưới an sinh xã hội và các chương trình xóa đói giảm nghèo.

Để toàn cầu hóa kinh tế tồn tại bền vững lâu dài, mọi quốc gia phải cùng có lợi. Nếu không, những người bị thiệt hại sẽ trở thành những người ủng hộ chủ nghĩa phi toàn cầu hóa, chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa bảo hộ. Đây là điều đã xảy ra ở nhiều nước phát triển.

Làm thế nào để có thể tăng các khoản thu cần thiết để bù đắp cho những người bị thiệt hại? Một ý tưởng đơn giản nhưng công bằng, khả thi và dễ thực hiện là mỗi chính phủ áp dụng mức thuế 0,5% đối với giá trị hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu của họ. Việc đánh thuế xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ cùng một lúc là khó hơn nhưng không phải là không thể. Thuế này sẽ áp dụng cho những người nhận được lợi ích và có thể được sử dụng để bồi thường cho những người bị thiệt hại trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế.

Nền kinh tế toàn cầu mở đồng nghĩa với việc thuế suất nhập khẩu ở mọi nơi đều bằng không. Sẽ mất một khoảng thời gian để đạt được điều này, nhưng các quốc gia có thể áp dụng mức thuế suất bằng không thông qua các hiệp định thương mại tự do song phương hoặc đa phương. Trong các hiệp định này, cần bổ sung thêm trường hợp ngoại lệ đối với “ngành công nghiệp non trẻ” nhằm mục đích bảo hộ cho các ngành khởi nghiệp mới bằng mức thuế nhập khẩu. “Công nghiệp non trẻ” là ngành công nghiệp mới thành lập cần được bảo hộ về thuế trong một thời gian nhất định để có cơ hội phát triển và có thể cạnh tranh trên trường quốc tế. Mặt khác, khi một quốc gia bị từ chối tiếp cận với một sản phẩm hoặc công nghệ cụ thể cần thiết và không thể mua được với bất kỳ giá nào, quốc gia này sau đó không còn lựa chọn nào khác là cố gắng tự sản xuất. Việc sản xuất như vậy có thể yêu cầu trợ cấp trong giai đoạn khởi động cho đến khi sản phẩm có thể được sản xuất với chi phí xấp xỉ bằng giá của sản phẩm ở những nơi khác trên thị trường thế giới. Mặc dù về nguyên tắc, nhà sản xuất trong nước có thể tính bất kỳ giá nào để duy trì lợi nhuận, nhưng những người sử dụng tiềm năng của sản phẩm này sẽ không mua với mức giá cao hơn so với giá thị trường thế giới, cho nên các sản phẩm đầu ra của họ sẽ không có khả năng cạnh tranh. Do đó, thuế quan có thể được áp dụng cho các “ngành công nghiệp non trẻ”, các khoản trợ cấp cũng có thể được áp dụng hợp lý trong trường hợp mở rộng “ngành công nghiệp non trẻ”.

Việc một hay một nhóm quốc gia đang kiềm chế hoặc cô lập nền kinh tế Trung Quốc là khá hợp lý. Bởi vì mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế hay còn gọi là phi toàn cầu hóa, thì theo đó mọi quốc gia đều thua cuộc do nền kinh tế của tất cả quốc gia đang đối mặt với sự giảm sút. Điều này dẫn đến sự “phân tách nền kinh tế”. Tuy nhiên, trong khi “phân tách nền kinh tế” có vẻ đáng ngại, thì các “nguồn cung ứng thứ hai” có vẻ khả quan hơn, và nếu thành công, sẽ góp phần giảm đáng kể lợi nhuận độc quyền và giảm chi phí có liên quan. Trong mọi trường hợp, kể cả khi không có cạnh tranh về địa chính trị, “nguồn cung ứng thứ hai” nên được thực hiện và duy trì để bảo đảm không bị gián đoạn nguồn cung đột ngột do dịch bệnh, thiên tai và các sự kiện bất ngờ khác. Tất nhiên, nhiều nguồn cung hoặc đa dạng hóa nguồn cung sẽ tốt hơn.

Khi đã có “nguồn cung ứng thứ hai” với giá cả phải chăng, lệnh cấm vận không còn hiệu quả cho bất kỳ mục đích nào nữa, giá cả sẽ giảm và lợi nhuận độc quyền có thể giảm đáng kể.

Liên quan đến dòng chảy tự do của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thế giới là dòng vốn tự do. Trong khi các dòng vốn dài hạn có khả năng mang lại lợi ích cho cả nước đầu tư và nước tiếp nhận nguồn đầu tư, tăng lợi nhuận cho nước đầu tư và giảm chi phí vốn cho nước tiếp nhận đầu tư, thì không có bằng chứng nào cho thấy dòng vốn ngắn hạn tạo ra lợi ích ròng cho các nước tiếp nhận đầu tư trong thời gian dài. Vì vậy, dòng vốn dài hạn, đối với cả đầu tư trong nước và ra nước ngoài nên được khuyến khích. Ngược lại, dòng vốn ngắn hạn cần được theo dõi và kiểm soát cẩn thận, vì nó có thể gây ra sự biến động đáng kể trong tỷ giá đồng nội tệ, dẫn đến ảnh hưởng xuất nhập khẩu và khả năng trả nợ nước ngoài. Vậy, phân biệt dòng vốn dài hạn và ngắn hạn như thế nào?

Thực tế có thể phân biệt dòng vốn dài hạn và ngắn hạn thông qua việc áp thuế giao dịch tài chính, còn được gọi là “thuế Tobin” đối với bất kỳ dòng vốn xuyên biên giới, thường là 1% giá trị gốc. Đối với một nhà đầu cơ ngắn hạn, việc giao dịch trong vòng một tháng sẽ có mức chi phí trung bình là 2% hoặc 24%/năm, điều này sẽ làm giảm đáng kể những khoản lợi nhuận tiềm năng. Nhưng đối với một nhà đầu tư dài hạn, với khoảng thời gian 10 năm, mức thuế 1% chỉ chiếm tỷ lệ 0,2%/năm. Vì vậy, mức thuế này sẽ không khuyến khích tất cả các dòng vốn ngắn hạn nhưng sẽ ảnh hưởng không đáng kể đến các dòng vốn dài hạn. Tuy nhiên, “thuế Tobin” có thể không đủ để ngăn chặn tình trạng dịc chuyển vốn do đại dịch.

Trong nền kinh tế toàn cầu mở, một cách bổ sung để tăng tổng thương mại thế giới là thúc đẩy việc giải quyết các giao dịch thương mại quốc tế bằng đồng nội tệ của các quốc gia đồng ý giao dịch. Thông thường, khi hai quốc gia giao dịch sẽ thanh toán bằng đơn vị tiền tệ của quốc gia thứ ba mà cả hai quốc gia đều có niềm tin, ví dụ như đô la Mỹ. Tuy nhiên, một thỏa thuận như vậy có thể tốn kém và rủi ro hơn vì sẽ có hai lần giao dịch ngoại hối và có thể gặp hai lần rủi ro vê tỷ giá hối đoái. Nhưng nếu có thể thanh toán bằng một trong hai loại nội tệ thì sẽ chỉ có một giao dịch ngoại hối và một rủi ro tỷ giá hối đoái. Do đó, việc thanh toán bằng đồng nội tệ nên được cả hai quốc gia thõa thuận vì lợi ích của mỗi quốc gia. Ví dụ, Trung Quốc và Indonesia đã ký một thỏa thuận để giải quyết các giao dịch của họ bằng đồng Nhân dân tệ hoặc đồng Rupiah. Về nguyên tắc, điều này giúp mỗi quốc gia khỏi bị hạn chế bởi dự trữ ngoại hối của mình trong việc giao dịch thương mại quốc tế của họ.

Cuối cùng, làm cách nào để đánh giá tỷ giá hối đoái của đơn vị tiền tệ của một quốc gia là quá cao hay quá thấp? Tỷ giá hối đoái của một quốc gia được định giá quá cao nếu quốc gia đó thâm hụt thương mại thường xuyên với các quốc gia khác trên thế giới và bị định giá thấp hơn nếu quốc gia đó có thặng dư thường xuyên.

Tuy nhiên, thặng dư hoặc thâm hụt song phương, thậm chí thường xuyên, thì không nhất thiết phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Trung Quốc có mục tiêu dài hạn là duy trì thương mại quốc tế cân bằng về hàng hóa và dịch vụ. Trung Quốc đã giảm thặng dư thương mại từ 8,5% GDP năm 2007 xuống 1% hoặc thấp hơn vào năm 2018 và 2019. Tuy nhiên, vào năm 2020, thặng dư thương mại của Trung Quốc đã tăng trên 2% do đại dịch COVID-19.

Trung Quốc đã vượt lên trên khái niệm toàn cầu hóa kinh tế đơn giản để thúc đẩy xây dựng một cộng đồng với tương lai chung cho nhân loại. Tất cả các quốc gia phải hợp tác với nhau để giải quyết những thách thức chung như sự nóng lên địa cầu làm ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Trung Quốc đã cam kết giảm mức khí thải carbon cao nhất trước năm 2030 và trở về mức trung hòa carbon trước năm 2060. Mỹ và Liên minh châu Âu đã cam kết đạt mức trung hòa carbon vào năm 2050 và Ấn Độ là năm 2070. Cách hiệu quả nhất để giảm lượng khí thải carbon là để tất cả (hoặc hầu hết) các quốc gia đồng ý áp dụng thuế carbon chung và cả thuế mêtan.

Nguồn: Khmer Times

Từ khóa: nền kinh tế toàn cẩu mở, vòng tuần hoán kép, Trung Quốc

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795474
Go to top