JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnBất đồng về tự do thương mại tại châu Á-Thái Bình Dương

Bất đồng về tự do thương mại tại châu Á-Thái Bình Dương

Sự đa dạng trong cấu trúc các hiệp định giao thương tự do (FTA), thay vì khác biệt về nội dung giữa các FTA mới chính là nguyên nhân gây phức tạp quan mô hình thương mại tại khu vực.

thediplomat 2021 10 28 10

 “Tất cả mọi vấn đề đều đặt trên bàn thảo luận” là ngôn từ quen thuộc của tất cả chuyên gia đàm phán thương mại; tuy nhiên, đây không toàn toàn là sự thật. Có thể nói, chỉ một số vấn đề được đưa ra bàn thảo, trong khi phần lớn quan điểm, lợi ích của mỗi bên vẫn nằm ngoài các phiên họp chính thức. Tuy nhiên, trong thời đại của những cuộc cạnh tranh chiến lược đi kèm với sự gia tăng của các khối liên kết thương mại đa phương giữa thời điểm WTO bị mắc kẹt trong mớ hỗn độn tranh chấp địa chính trị, vấn đề đã nêu bắt đầu hiện diện ngày một rõ nét.

Không đâu có thể quan sát chủ đề nêu trên rõ hơn tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương nơi chúng ta có thể thấy ba xu hướng chính: thỏa thuận giao thương theo mô-típ hiệp định của Hoa Kỳ; thỏa thuận thương mại lấy tiêu chuẩn châu Âu làm nền tảng và các hiệp định phản ánh lợi ích rõ nét của Trung Quốc.

Hãy bắt đầu với mô thức thỏa thuận phổ biến nhất hiện nay – hiệp định có sự tham gia của EU. Khi EU đàm phán thỏa thuận giao thương với một nền kinh tế châu Á, các cuộc đàm phán thường có nội dung bao phủ rộng, vượt qua cả những vấn đề về thương mại hàng hóa và dịch vụ. Việc Hiệp định thương mại EU-Việt Nam được ký kết năm 2019 là minh chứng mới nhất cho quá trình tạo lập ảnh hưởng của Liên minh 27 quốc gia tai khu vực Đông Nam Á; thỏa thuận này buộc Việt Nam phải đưa ra các cam kết về tiêu chuẩn lao động, cải thiện tình trạng môi trường, đồng thời cho phép Ủy ban châu Âu xem xét tài liệu nội bộ doanh nghiệp đất nước hình chữ S nếu tổ chức đã nêu nghi ngờ chính sách trợ cấp của Việt Nam. Gần đây nhất, những điều khoản này cũng xuất hiên trong Thỏa thuận đầu tư toàn diện EU-Trung Quốc – hiệp định hiện đang trong tình trạng đóng băng do căng thẳng giữa hai bên.

Với quy mô sức mua lớn và sức hút của một thị trường đồng nhất, Brussels có thể giữ thế thượng phong trong các cuộc đàm phán, ép buộc đối tác phải đưa ra những cam kết ngoài phạm vi lĩnh vực thương mại, đầu tư. Một mặt, tầm quan trọng của EU khiến các nước tham gia đàm phán phải chấp nhận nhiều nhương bộ, và cho thấy sự can dự sâu của Liên minh vào công việc nội bộ những quốc gia này. Mặt khác, ký kết một hiệp định thương mại với EU có thể mang tới nhiều cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa, đồng thời thúc đẩy cải cách tại chính lãnh thổ của những nước đối tác. Tuy nhiên, việc EU và Việt Nam phải mất 5 năm để đi đến ký kết thỏa thuận giao thương cho thấy một vấn đề lớn hơn, đó chính là, bằng việc chấp nhận tiêu chuẩn đặt ra của Liên minh, đất nước hình chữ S đã chấp nhận luật chơi do EU đặt ra.

Tuy nhiên, EU không phải là thế lực thương mại duy nhất muốn định hình nội dung các thỏa thuận thương mại tại châu Á-Thái Bình Dương. Với việc thông qua Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) vào năm 2020, 10 thành viên thuộc Khu vực thương mại chung ASEAN đã kết nối chặt chẽ hơn với 5 đối tác thương mại lớn của khối, đồng thời thiết lập một khung pháp lý thương mại cho tất cả thành viên với quy mô chiếm 30% GDP toàn cầu và hình thành một cấu trúc giao thương chung lớn nhất trong lịch sử. Được thúc đẩy bởi sự chuyển hướng chính sách thương mại của xứ cờ hoa, thỏa thuận đã nêu chỉ đơn thuần điều chỉnh các vấn đề thương mại, đầu tư, và ngó lơ những chủ đề khác như tiêu chuẩn lao động, thúc đẩy nhân quyền và bảo vệ môi trường. Mô thức nêu trên hoàn toàn phù hợp với định hướng của Trung Quốc – quốc gia không hào hứng với việc có những quy định quốc tế can thiệp sâu vào vấn đề doanh nghiệp nhà nước, đồng thời luôn khao khát những cam kết mang lại lợi ích cho các nhà hoạch định chính sách nước này.

Rắc rối hơn, hầu hết thảo luận về FTA tại châu Á đang dựa vào nội dung Hiệp đinh Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) – thỏa thuận được coi là có nội dung cấp tiến nhất tại khu vực. Hiệp định với tên gọi ban đầu là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do chính quyền Tổng thống Obama đề xuất được coi công cụ thương mại giúp loại trừ tầm ảnh hưởng của các nền kinh tế có cơ chế bảo hộ cao như Trung Quốc. Tuy nhiên, việc chính quyền Trump rút Hoa Kỳ khỏi TPP đã buộc các thành viên khác phải tìm hướng đi khác. Trên cơ sở những cam kết đã định hình và nỗ lực làm mới dưới ảnh hưởng chính sách thương mại do EU thiết lập, 11 quốc gia thành viên Hiệp định đã ký kết CPTPP – một phiên bản kết hợp giữa mô thức FTA của cả Mỹ và châu Âu.

Trong bối cảnh sự đa dạng của các mô thức FTA có thể thúc đẩy đổi mới trong cấu trúc thương mại, hiện tượng đã nêu thực sự là vấn đề nghiêm trọng đối với các nền kinh tế quy mô vừa và nhỏ; cụ thể là họ không thể có một lộ trình rõ ràng cho việc đồng thời tuân thủ nhiều dạng cam kết. Đối với những vấn đề mới được đề cập trong các thỏa thuận giao thương tại châu Á-Thái Bình Dương, nhiều quy định tương ứng không có tính liên kết, đồng bộ lẫn nhau. Ví dụ như, CPTPP tạo ra một tầm nhìn đầy tham vọng cho sự kết nối giữa các quốc gia trong khu vực; đồng thời phản ánh quyết tâm của 11 thành viên Hiệp định xây dựng một nền tảng chung cho sự phát triển của thương mại toàn cầu; vậy nhưng với việc Hoa Kỳ từ bỏ TPP, các quốc gia còn lại buộc phải chấp thuận mô típ thương mại ít tham vọng hơn do Trung Quốc hoặc Mỹ đề xuất.

Anh là nền kinh tế mới nhất cảm nhận rõ rủi ro từ sự đa dạng của các mô típ FTA. Giới chính trị gia xứ sương mù đang hướng sự chú ý đến việc ký kết thỏa thuận giao thương với các quốc gia chau Á và xứ cờ hoa, coi đây là những thị trường quan trọng đảm bảo cho sự thịnh vượng của nước này sau quá trình Brexit. Vậy nhưng, sự khác biệt trong cấu trúc của các hiệp định thương mại tại Á châu có thể khiến mong muốn của Vương quốc Anh gặp vô vàn trở ngại.

Ví dụ, nếu Anh muốn ký kết một thỏa thuận giao thương với Mỹ, xứ sương mù có thể sẽ phải từ bỏ việc theo đuổi một FTA với Trung Quốc dưới sức ép của Hoa Kỳ. Theo nội dung của Thỏa thuận Mỹ-Mexico-Canada và Hiệp định thương mại Mỹ-Nhật – đều được ký kết vào năm 2018; các nhà đàm phán của xứ cờ hoa đã bổ sung một điều khoản cho phép họ được quyền từ bỏ những gì đã cam kết nếu những bên còn lại ký kết FTA với một nền kinh tế phi thị trường, ví dụ như Trung Quốc.

Quá trình Anh quốc thiết lập các FTA tại châu Á-Thái Bình Dương thực sự rất gian nan. Úc và xứ sương mù đã ký kết một Thỏa thuận khung về thương mại tự do, nhưng Canberra bất ngờ đưa ra điều kiện Anh phải sửa đổi một số quy định trong nội địa trước khi hai bên xúc tiến phê chuẩn Hiệp định. Nguyên do là bởi Úc đã xây dựng những tiêu chuẩn mới về phúc lợi động vật trên cơ sở yêu cầu của CPTPP; vì vậy, để hài hóa với các quy định trong Thỏa thuận giao thương sắp tới giữa Úc và Anh, phương thức hiệu quả nhất chính là London phải áp dụng những tiêu chuẩn tương tự như xứ chuột túi. Có thể nói, yêu cầu về kiểm dịch động thực vật trong CPTPP được hình thành chủ yếu theo yêu cầu của Hoa Kỳ - vốn chọn cách tiếp cận dựa chủ yếu vào các kết quả khoa học, thay vì cách tiếp cận vốn ưa thận trọng của EU. Kết quả là, nông dân Anh chắc chắn sẽ bối rối khi phải đồng thời tuân thủ những yêu cầu khác nhau khi xuất khẩu nông sản sang Úc và Liên minh 27 quốc gia; tình huống đã nêu dự đoán có thể gây phức tạp thêm cho tiến trình Brexit của xứ sương mù.

Ở khía canh khác, các quy định về quy tắc xuất xứ trong CPTPP khá tương đồng với chính sách thương mại chung của EU nhưng lại không tương thích với yêu cầu của Mỹ. Cụ thể, Âu châu đưa ra yêu cầu về xuất xứ của nguyên liệu sản xuất hàng hóa cởi mở hơn so với Hoa Kỳ. Ví dụ, trong quá trình đàm phán, Washington đã cương quyết yêu cầu ô tô sản xuất từ Mexico hay Canada phải sử dụng hoàn toàn cấu phần nguyên liệu nội địa. Trong khi đó, ngay cả CPTPP cũng cho phép việc tồn tại của  nguyên liệu nhập khẩu trong quá trình sản xuất hàng hóa thành phẩm trên cơ sở phương thức cộng gộp; bên cạnh đó, FTA của EU cũng để ngỏ khả năng sự tồn tại của những quy định riêng về quy tắc xuất xứ áp dụng với một số sản phẩm với điều kiện các quy định này đã được thiếp lập trước khi hiệp định có liên quan có hiệu lực cũng như tương thích với yêu cầu của Liên minh 27 quốc gia.

Còn quá sớm để đưa ra bất kỳ nhận định nào liên quan đến các mô típ thỏa thuận giao thương đã nêu trong thời điểm nền kinh tế thế giới đang hồi phục sau đại dịch Covid-19. Hiện tại, sự khác biệt về quy định trong các thỏa thuận thương mại chỉ là sự phản ánh tính cạnh tranh của một số cường quốc trong tiến trình xác lập ảnh hưởng lên cấu trúc giao thương toàn cầu, do vậy, xu thế này có còn tiếp diễn hay không vẫn là chủ đề còn bỏ ngỏ. Khi các nhà đàm phán thương mại vẫn còn đang bối rối trước hàng tá mô típ FTA, đặt lên bàn thỏa thuận những gì các quốc gia mong muốn không còn là cách thức giúp việc thông qua một Hiệp định thương mại trở nên dễ dàng hơn

Nguồn: The Diplomat

Từ khóa: Thương mại, FTA, EU, Hoa Kỳ.

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008796714
Go to top