JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnTrung tâm WTO (VCCI): Pháp luật thực thi FTA cần hướng tới mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp

Trung tâm WTO (VCCI): Pháp luật thực thi FTA cần hướng tới mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp

Trung tâm WTO và Hội nhập khuyến nghị các cơ quan quản lý không nên giới hạn hoạt động xây dựng pháp luật thực thi các FTA ở việc thực hiện những “lời hứa” với đối tác, mà cần hướng tới mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế tận dụng các cam kết quốc tế ở mức tốt nhất.

Khuyến nghị này được Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra tại hội thảo “Hoạt động xây dựng pháp luật thực thi CPTPP – Đánh giá hiệu quả thực hiện và hàm ý chính sách” diễn ra ngày 10-11.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập – cho biết có tổng cộng 7 luật, 6 nghị định và 6 thông tư cần được sửa đổi hoặc xây dựng mới, theo kế hoạch xây dựng pháp luật thực thi CPTPP của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành. VCCI đã thực hiện rà soát với 11 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để thực thi các cam kết CPTPP có hiệu lực ngay và 4 văn bản được soạn thảo để chuẩn bị thực thi các cam kết CPTPP có hiệu lực theo lộ trình trong giai đoạn 2019 – 2021.

Kết quả, phần lớn quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đều tương thích với cam kết CPTPP. Thậm chí, một số quy định có nội dung vượt chuẩn cam kết, thực hiện ở mức cao hơn so với yêu cầu hoặc với lộ trình sớm hơn.

CPTPP1

Toàn cảnh hội thảo “Hoạt động Xây dựng Pháp luật thực thi CPTPP – Đánh giá hiệu quả thực hiện và Hàm ý chính sách”. Ảnh: VCCI cung cấp.

Nhưng bà Trang cho biết thời gian ban hành các văn bản này quá chậm so với mốc là 14-1-2019 – thời điểm CPTPP có hiệu lực. Cụ thể, mỗi văn bản về thương mại hàng hóa ban hành chậm trung bình 208 ngày, các văn bản về quy tắc ban hành chậm trung bình 350 ngày.

“Trung bình mỗi văn bản này ban hành chậm 246 ngày khiến các doanh nghiệp phải chịu thiệt thòi. Bởi khi các văn bản ban hành chậm, doanh nghiệp chậm tiếp cận cơ hội từ CPTPP dù được hồi tố”, bà Trang nói.

Dẫn chứng vấn đề này, bà cho biết các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu mỹ phẩm từ các quốc gia thành viên của Hiệp định CPTPP không cần trình các giấy tờ cam kết lưu hành sản phẩm. Nhưng việc văn bản thực thi cam kết của Việt Nam ban hành chậm tới 12 tháng, khiến các doanh nghiệp có giao dịch, hồ sơ nhập khẩu mỹ phẩm từ các nước CPTPP từ tháng 1 tới tháng 12-2019 không được hưởng lợi từ cam kết của hiệp định, dù có quy định hồi tố.

Với các doanh nghiệp đã xuất – nhập khẩu loại hàng hóa đủ điều kiện hưởng ưu đãi CPTPP trước ngày Nghị định 52/2019 của và Thông tư 62/2019 của Bộ Tài chính có hiệu lực, chuyên gia này cho rằng doanh nghiệp có thể không xin lại được một trong các chứng từ để được hoàn lại phần thuế chênh lệnh sau khi hoàn tất việc xuất – nhập khẩu, dù pháp luật cho phép việc này.

Ngoài ra, báo cáo của Trung tâm WTO và Hội nhập cho thấy Việt Nam mới tận dụng được bình quân khoảng 37% ưu đãi do các FTA mang lại. Đáng lưu ý, chỉ có 1,67% hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các nước CPTPP tận dụng được các ưu đãi thuế quan của hiệp định trong năm 2019.

Mức này không chỉ thấp so với mức tận dụng trung bình 37,2% đối với tất cả các FTA của Việt Nam trong năm 2019, mà còn thấp so với mức tận dụng trong năm đầu tiên đối với nhiều FTA khác.

Lý giải điều này, báo cáo cho biết nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn thiếu thông tin liên quan tới CPTPP nên chưa tận dụng được cơ hội. Ngoài ra, nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan được công khai để lấy ý kiến công chúng nhưng không kèm theo tài liệu giải thích/giải trình khiến việc tìm hiểu và góp ý của các đối tượng điều chỉnh gặp khó khăn.

Ông Hoàng Quang Phòng – Phó chủ tịch VCCI – cho biết đại dịch Covid-19 khiến Việt Nam và các quốc gia thành viên CPTPP chịu ảnh hưởng nặng nề. Vì vậy, những chuyển biến về thương mại và đầu tư dưới tác động của hiệp định được phát huy một cách thật rõ ràng.

Để giúp doanh nghiệp tận dụng các cam kết quốc tế ở mức tốt nhất, bà Phạm Chi Lan – chuyên gia kinh tế – cho rằng các cơ quan quản lý nên xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế trong nước với mức cao hơn hiện tại để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp, thay vì chỉ đảm bảo tuân thủ các cam kết FTA.

“Môi trường pháp lý phải rộng hơn so với CPTPP, tiêu chuẩn phải cao hơn, thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, và phải có tầm nhìn xa hơn cho phát triển của Việt Nam trong tương lai, nếu muốn thành nước giàu vào năm 2045”, bà Lan đề xuất.

Tương tự, báo cáo của Trung tâm WTO và Hội nhập nhấn mạnh các hoạt động xây dựng pháp luật thực thi các FTA không nên chỉ giới hạn ở việc thực hiện những “lời hứa” với đối tác FTA, mà cần hướng tới xây dựng pháp luật để đáp ứng chính nhu cầu nội tại của chúng ta trong quá trình hội nhập FTA nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế tận dụng ở mức tốt nhất có thể các cam kết FTA.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang cho rằng các văn bản pháp luật thực thi tới đây nên mở rộng hơn, vượt chuẩn cam kết để phù hợp với bối cảnh mới, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, thay vì chỉ đưa ra các quy định đạt chuẩn theo cam kết của hiệp định thương mại đã ký.

Theo đó, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính tương thích với các cam kết FTA và tham vấn đầy đủ các đối tượng liên quan trong quá trình xây dựng các văn bản thực thi hiệp định thương mại tự do (FTA).

Ngoài ra, việc soạn thảo nội dung văn bản cần thực hiện càng sớm càng tốt, thậm chí từ khi văn kiện FTA được ký kết chính thức mà không chờ tới khi phê chuẩn. Đồng thời, kế hoạch xây dựng pháp luật thực thi cần nêu rõ văn bản được ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn, qua đó tạo điều kiện để cơ quan soạn thảo đẩy nhanh tiến trình về thủ tục.

Nguồn: The Saigon Times

Từ khóa: CPTPP, FTA, pháp luật, WTO, hội nhập

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008797169
Go to top