Có vẻ như Hoa Kỳ vẫn chưa đề ra chính sách thương mại của riêng mình sau chính tháng cầm quyền của tổng thống Biden. Các mức thuế nhập khẩu của cựu tổng thống Donald Trump đối với hàng hóa Trung Quốc vẫn được giữ nguyên. Ngoài ra, các thỏa thuận thương mại Giai đoạn Một với Trung Quốc vượt khỏi khuôn khổ các quy tắc thương mại toàn cầu cũng đã được thiết lập. Trong khi đó, hệ thống giải quyết tranh chấp tại WTO vẫn không thể thực thi các quy tắc chung do Hoa Kỳ ngăn chặn việc bổ nhiệm các thẩm phán của Cơ quan Phúc thẩm.
Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai gần đây đã tăng gấp đôi thuế quan đối với Trung Quốc và thỏa thuận thương mại Giai đoạn Một. Theo Gary Hufbauer: "Ba phần tư hành động của Tai là các chính sách của Lighthizer với các góc cạnh mềm mại hơn và có vẻ được truyền đạt thân thiện hơn". Các chính sách mới duy nhất của chính quyền Biden là những biện pháp bảo hộ liên quan tới sắc lệnh “Mua hàng Mỹ”. Biden đã ký sắc lệnh hành pháp để lấp lỗ hổng trong kế hoạch Buy American (Mua hàng Mỹ) hiện nay, nhằm tăng sức mua của Chính phủ nước này.
Hoa Kỳ đã sử dụng thuế quan và mối đe dọa về mức thuế cao hơn để ép buộc Trung Quốc tham gia vào một thỏa thuận thương mại song phương, được ký kết vào tháng 1 năm 2020. Trước đó, Nhật Bản cũng bị ép phải thành lập một thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ liên quan tới việc áp thuế đối với ô tô. Thỏa thuận thương mại Giai đoạn Một giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đưa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới và các quốc gia thương mại ngày càng theo định hướng thương mại có quản lý thay vì thương mại tự do.
Thỏa thuận này tập trung vào việc thúc đẩy Trung Quốc mua hàng hóa, sản xuất và năng lượng nông nghiệp của Mỹ trị giá 380 tỷ USD vào cuối năm 2021 thay vì mở ra các thị trường Trung Quốc mới. Vấn đề là Hoa Kỳ đã không quan tâm đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc. Các cường quốc lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ hiếm khi xem xét tác động chính sách lên các nước nhỏ hơn dù là các nước đồng minh. Hạn ngạch mua hàng hóa nông sản của Mỹ trị giá 80 triệu USD đồng nghĩa với việc Trung Quốc phải chuyển hướng nhập khẩu từ các nhà cung cấp khác. Tại thị trường Trung Quốc hiện nay, những người trồng rượu, trồng lúa mạch và thịt bò cũng như những người khai thác than của Mỹ đã thay thế các nhà sản xuất Úc cạnh tranh hơn theo sự xúi giục của Hoa Kỳ và với sự đồng lõa có chủ ý của Trung Quốc.
Đồng thời, Kurt Campbell, Điều phối viên của Nhà Trắng về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, tuyên bố Hoa Kỳ có sự hỗ trợ của chính các đồng minh và đối tác, bởi lẽ, những tác động do sự chuyển hướng thương mại từ cuộc chiến Mỹ - Trung đã được kiểm soát. Theo James Curran, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai đã không có câu trả lời thỏa đáng về việc “thỏa thuận song phương của Mỹ không quan tâm đến hậu quả đa phương về cách các cam kết đó của Trung Quốc được thực hiện như thế nào” và ảnh hưởng tới quyền lợi của các đồng minh ra sao.
Việc Trung Quốc gây sức ép đối với Úc chỉ là một trong số các hoạt động thương mại nước này đang áp dụng toàn cầu. Các khoản trợ cấp công nghiệp mà chính phủ mở rộng cho doanh nghiệp nhà nước đã bóp méo thị trường và cạnh tranh ở Trung Quốc, những biến dạng đó lan ra cả thị trường quốc tế. Nhiều công ty nước ngoài buộc phải chuyển giao công nghệ như cái giá phải trả để hoạt động tại thị trường nước này. Có cả những thực tiễn phi thị trường khác ở Trung Quốc mà thỏa thuận thương mại Giai đoạn Một với Hoa Kỳ đang thực hiện.
Vấn đề là Trung Quốc không vi phạm quy tắc nào bởi lẽ những lĩnh vực kể trên vốn không có luật lệ quốc tế chung trước đó để mà phá vỡ. Ví dụ, trợ cấp công nghiệp và trợ cấp nông nghiệp đều chưa được thỏa thuận quốc tế kỷ luật.
Các quy tắc trong WTO không theo kịp với sự phát triển của thương mại hiện đại. Tuy nhiên, cách làm của Hoa Kỳ hiện nay đối với Trung Quốc và cách tiếp cận chia sẻ thị trường đối với công nghệ và thương mại khác với châu Âu cũng không phải là phương án mà thế giới đang thực sự cần.
Các hiệp định song phương và khu vực đang cố gắng lấp đầy khoảng trống. Nổi bật trong số các thỏa thuận đó là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Hoa Kỳ dẫn đầu. Tuy nhiên, sau đó Trump hủy bỏ thỏa thuận vào ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Các nước còn lại tìm cách cứu vãn bằng Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), tạo ra các quy tắc mới cho thương mại quốc tế trong các lĩnh vực mà WTO còn thiếu cũng như mở ra thị trường mới cho các thành viên. Về mặt chiến lược, TPP ban đầu vốn nhằm mục tiêu chống lại ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc ở châu Á.
Theo William Reinsch: “Các quan chức chính quyền Hoa Kỳ nhận thức sâu sắc rằng họ chưa có chính sách thương mại cho khu vực và việc gửi một tàu sân bay qua Biển Đông vài tháng một lần thực sự không có cách gì thay thế được”.
Khi Trung Quốc nỗ lực gia nhập CPTPP, việc Hoa Kỳ thiếu vắng chính sách thương mại cho khu vực Trung Quốc và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã trở nên rõ ràng hơn. Trước đó, Nhật Bản (và Úc) đã dẫn đầu việc ký kết CPTPP-11 vào năm 2018 sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, nhưng vẫn để ngỏ cánh cửa cho Hoa Kỳ quay trở lại.
Chính phủ Trung Quốc đã xem xét việc xin gia nhập CPTPP một cách lâu dài và cẩn trọng. Nước này cũng nhận thức rõ rằng tư cách thành viên sẽ đòi hỏi phải cải cách đáng kể bởi vì nội dung chương doanh nghiệp nhà nước dường như viết chính xác cho bối cảnh Trung Quốc và thỏa thuận mềm về DNNN đối với Việt Nam.
Việc Trung Quốc đăng ký tham gia CPTPP tạo cơ hội cho Úc và các thành viên khác giải quyết những vấn đề của riêng họ với Bắc Kinh cũng như tham gia vào các vấn đề cải cách thương mại lớn. Việc đàm phán chắc chắn sẽ mất thời gian nhưng sẽ là một quá trình hữu ích; sự quan tâm của Trung Quốc đối với CPTPP có thể giúp lôi kéo Hoa Kỳ trở lại hiệp ước.
Các cuộc đàm phán của Trung Quốc với các thành viên CPTPP khác trước khi có sự tham gia của Hoa Kỳ sẽ là cơ hội để Bắc Kinh thực hiện chương trình cải cách của mình trong tương lai. Điều này sẽ mở ra một lộ trình để Trung Quốc tái can thiệp kinh tế với Hoa Kỳ, đồng thời hướng tới Khu vực Thương mại Tự do Châu Á và Thái Bình Dương. Chính sách dành cho khu vực này là một trong những phản ứng mang tính chiến lược của Bắc Kinh đối với việc chính quyền Obama khởi xướng TPP.
Reinsch chỉ ra rằng, con đường chiến thuật phía trước cho Washington là tuyên bố thỏa thuận CPTPP hiện tại không đầy đủ; sau đó, thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ tham gia để cải thiện hiệp định này (mặc dù nhóm 11 thành viên còn lại có thể sẽ rất miễn cưỡng trong việc khôi phục các điều khoản vô lý của Mỹ liên quan tới sở hữu trí tuệ).
Nhìn chung, nếu Hoa Kỳ đưa ra dấu hiệu cho thấy sự quan tâm của mình đối với việc tái gia nhập thỏa thuận sẽ là một sự khởi đầu đáng chú ý. Việc dỡ bỏ thuế quan trừng phạt và hủy bỏ các thỏa thuận thương mại mà Hoa Kỳ đang có với Trung Quốc trong quá trình đàm phán mở cửa thị trường và cải cách ở nước này sẽ được hoan nghênh trên toàn khu vực. Điều này sẽ giúp Hoa Kỳ tham gia vào nền kinh tế châu Á một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ có thể hành động để xóa bỏ sự tắc nghẽn trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO; bởi lẽ, đây sẽ là một dấu hiệu quan trọng cho thấy sự tin tưởng đối với hệ thống thương mại đa phương. Cho đến khi nào Hoa Kỳ có động thái cụ thể thì mới có thể lên tiếng chỉ trích Trung Quốc; còn nếu không, trong lúc lên án Trung Quốc mà vẫn lấn chiếm thị trường của Úc tại Trung Quốc thì chỉ là hành động đạo đức giả.
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: Trung Quốc, Hoa Kỳ, chính sách thương mại






















