Văn phòng thống kê Anh đã dự báo vào 8 tháng trước về tác động của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế xứ sương mù theo ngôn từ kiểu như: “Yếu tố sẽ gây suy giảm năng lực sản xuất lớn nhất từ thời điểm 1709”.

Về phần mình, Văn phòng phụ trách Ngân sách quốc gia (OBR), trong báo cáo thường kỳ hôm thứ Tư đã đưa ra tính toán cho rằng tác động từ Brexit sẽ nghiêm trọng hơn thiệt hại do Covid gây ra. Theo dự báo, Brexit sẽ khiến năng suất của Anh quốc suy giảm, qua đó, khiến GDP quốc gia thiệt hại trung bình 4%, trong khi đó, đại dịch chỉ khiến GDP của xứ sương mù giảm 2%.
Đây là điều không bất ngờ. Sự suy giảm sản xuất trong năm 2020 có cả những nhân tố bất định cũng như đã nằm trong dự báo – về mặt kinh tế, đóng cửa quốc gia do đại dịch không khác nhiều với một kỳ nghỉ lễ dài ngày. Tương tự như các ngày lễ tại một đất nước, phần lớn doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sẽ đóng cửa. Điểm khác biệt duy nhất chính là đóng của nghỉ lễ chỉ mang tính lựa chọn, còn ngừng sản xuất vì dịch bệnh lại mang tính sống còn với người dân; tuy nhiên, kết quả thì không khác nhau mấy – nền kinh tế sẽ chứng kiến sự giảm tốc.
Ngày nghỉ lễ không khiến năng lực sản xuất của một quốc gia suy giảm. Nếu một nhà máy phải đóng cửa trong 1 tháng, máy móc vẫn còn đó đợi ngày hoạt động trở lại. Tương tự như vậy, khi công nhân trở lại làm việc, họ sẽ không mất thời gian bắt nhịp với yêu cầu của giới chủ. Vi-rút không tàn phá nhà máy, đường sá, công trình xây dựng; như vậy, mặc dù thiệt hai về nhân mạng do đại dịch là thảm khốc, tác động của Covid-19 đối với dân số cao tuổi trên bình diện kinh tế vĩ mô là khá ít ỏi.
Do vậy, sự lo ngại không chỉ vì sự suy giảm ngắn hạn về GDP. Vấn đề chính nằm ở việc đóng cửa tạm thời có thể gây thiệt hại lâu dài cho nền kinh tế. Rủi ro lớn nhất chính là, vào thập niên 1980, khi nước Anh chấp nhận một tỷ lệ lớn người dân thất nghiệp, vấn đề này đã biến thành một căn bệnh dai dẳng và khiến hoạt động kinh doanh đình trệ.
Tuy nhiên, với chính sách trợ cấp ngừng việc cùng hàng loạt biện pháp hỗ trợ, xứ sương mù và nhiều quốc gia đã tránh được rủi ro do Covid-19 gây ra. Tại Hoa Kỳ, GDP nước này đã tăng vượt mức trước thời điểm khủng hoảng do đại dịch. Tình hình tại Anh quốc cũng tương tự dù mức tăng vẫn còn khá chậm.
Có thể nói, khó khăn ngắn hạn vào thời điểm hiện nay tại các nền kinh tế phát triển chủ yếu liên quan đến tắc nghẽn chuỗi cung ứng, sự thiếu hài hòa của thị trường lao động; những vấn đề đã nêu chính là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa cũng như gia tăng chi phí thuê mướn. Vậy nhưng, theo quan điểm của OBR, lạm phát và giá nhân công gia tăng do bùng nổ kinh tế khi tiến hành mở cửa kinh tế sau dịch chỉ có tính nhất thởi.
OBR có lẽ đã không trung thực về vấn đề đã nêu – cơ quan này thực tế đã cảnh báo người lao động có thể mất việc vĩnh viễn do buộc phải nghỉ hưu sớm hoặc sức khỏe không còn đảm bảo sau khi mắc Covid-19; do vậy, không quá lời khi cho rằng đại dịch có tác động nghiêm trọng đến năng suất của một đất nước. Tuy nhiên, bức tranh sắp tới còn có thể tệ hơn.
So với dịch Covid-19, Brexit, về bản chất là một vấn đề có tác động lâu dài. Nước Anh phải mất hàng thập kỷ để thu nhận được lợi ích từ việc gia nhập EU; do đó, có thể phải nhiều năm sau, ảnh hưởng từ Brexit mới được đánh giá đầy đủ.
Những tác động của Brexit không còn là chủ đề gây tranh cãi. Gia tăng rào cản thương mại và dịch chuyển lao động giữa Anh và EU chắc chắn sẽ gây ra suy giảm giao thương và nhập cư, qua đó, ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của cả hai bên, đặc biệt là về phía xứ sương mù. Vậy nhưng không hiếm chính trị gia Anh cho rằng các hàng rào thương mại sẽ không tạo ra bất kỳ khác biệt nào liên quan đến vấn đề giao thương xuyên biên giới. Hoặc, họ thường phát ngôn tự tin khi cho biết các quốc gia, vùng lãnh thổ khác có thể là đối tác thương mại thay thế của Anh quốc khi nước này rời EU.
Mức dự báo tác động của Brexit đối với kinh tế Anh của OBR (4%) không khác nhiều so với tính toán của nhiều nhà kinh tế độc lập (dưới 6%).
Tuy nhiên, đó chỉ là những con số dự báo trước thời điểm Brexit. Do vậy, hiện tại OBR đã có một cách nhìn quan ngại hơn về chủ đề đã nêu trên cơ sở các số liệu mới. Kết luận của OBR đơn giản chỉ là “càng lâu dài, càng khó khăn”. Hoạt động xuất nhập khẩu của xứ sương mù suy giảm đến 15% là minh chứng rõ nhất cho các nhận đinh tiêu cực ban đầu vê tác động của sự kiện Anh rời EU.
Về một số mặt, dữ liệu tổng hợp còn cho thấy một bức tranh ảm đạm hơn – hoạt động xuất khẩu của Anh đã giảm mạnh so với mức trước đại dịch trong khi đó, các nền kinh tế phát triển khác đều chứng kiến sự tăng trưởng về hoạt động thương mại. Bên cạnh đó, tương đồng với nhận xét của các chuyên gia thương mại, OBR không nhận thấy bất kỳ lợi ích thương mại nào hoặc quan hệ giao thương nào với các đối tác thay thế có thể giảm thiểu những nguy hại do sự kiện Brexit gây ra.
Không một mô hình nào cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại. Báo cáo của OBR cũng không là ngoại lệ. Những văn bản này cũng thường ngó lơ những tác động của đại dịch đối với lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là ảnh hưởng tới trẻ em thuộc gia đình nghèo. Do vậy, việc chính phủ thiếu chi ngân sách cho các chương trình như đã nêu có thể gây ra những thiệt hại vĩnh viễn về kinh tế và xã hội đối với xứ sương mù. Mặt khác, môt chính sách nhập cư cởi mở hơn đối với các công dân ngoài EU có thể giảm thiểu phần nào những thiệt hại do Brexit gây nên.
Về lâu dài, về mặt kinh tế, có thể nói, Covid là vấn đề đối với Lễ Giáng sinh trong khi đó Brexit lại là nguồn cơn ám ảnh đối với vương quốc Anh trong hàng thế hệ.
Nguồn: The Guardian
Từ khóa: Anh quốc, Covid, Brexit, OBR






















