JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnLàm thế nào để khôi phục thương mại tự do hậu Covid

Làm thế nào để khôi phục thương mại tự do hậu Covid

rescue free trade covid

Các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với tư cách là “tấm áp phích” chống lại toàn cầu hoá, nhưng các điều khoản về lao động và môi trường trong FTA vẫn là những câu hỏi đặt ra cho các nhà phê bình.

*Tiến sĩ Evgeny Postnikov, Đại học Melbourne và Phó Giáo sư Ida Bastiaens, Đại học Fordham

Chính sách thương mại ngày càng trở nên chính trị hóa trên toàn cầu, khi người dân phản đối các thỏa thuận thương mại mới và các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy hứa hẹn sẽ khôi phục thương mại tự do nhân danh đảm bảo an ninh kinh tế cao hơn và mang lại nhữngviệc làm bị mất do thuê ngoài.

Và đại dịch toàn cầu đãlàm trầm trọng thêm các phản ứng bảo hộ này khi các chính phủ đối mặt với cuộc suy thoái do COVID gây ra và nhận ra tính dễ bị tổn thương lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu của họ.

Đại dịch cũng đã tạo ra những áp lực mới đối với việc phi toàn cầu hóa và tự cường - được hỗ trợ bởi những căng thẳng địa kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ.

Tuy nhiên các thay đổi về chính sách thương mại mang tính áp đặt chỉ làm suy giảm kinh tế tồi tệ thêm, tương tự như những gì đã xảy ra trong giai đoạn Đại suy thoái, khi các chính sách giao thương mang tính “làm hại láng giềng” sẽ khiến kinh tế trì trệ, thúc đẩy chủ nghĩa dân tuý và đẩy cộng đồng quốc tế và bờ vực xung đột.

Để tránh điều này, các chính phủ cần nhanh chóng khôi phục tăng trưởng.

Các nhà lãnh đạo đang phải đối mặt với tình huống chính sách nan giải là làm thế nào để không khuất phục trước các chính sách thương mại mang tính áp đặt quá khích đồng thời sửa chữa niềm tin đang bị lung lay của công chúng đối với lợi ích của toàn cầu hóa kinh tế. Làm thế nào để có thể dung hòa được hai mục tiêu này?

Hệ thống thương mại đa phương củaTổ chức Thương mại Thế giới đang rơi tự do vìnhững bất đồng trước đó giữa các thành viên và việc Hoa Kỳ ngănchặn Cơ quan Phúc thẩm của mình để giải quyết tranh chấp.

Tương ứng, các hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện naylà phương tiện chính để thực hiện tự do hóa thương mại và duy trì tăng trưởng.

Các hiệp định thương mại tự do FTA trở thành tấm áp phích của các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa, bao gồm những người lao động tay nghề thấp đổ lỗi về việc mất việc làm và những cử tri có học thức thì nghi ngờ quá trình thúc đẩy lợi ích doanh nghiệp không được kiểm soát, hủy hoại sinh kế và làm tổn thương hành tinh.

Ngay cả trong quá khứ gần đây, sản phẩm thương mại tự do khó được bán cho công chúng trong các nền dân chủ tự do vì các công cụ tiêu chuẩn chính sách để ngăn chặn tổn thất thương mại đã không hiệu quả trong việc giải quyết tình trạng chênh lệch kinh tế.

Vì vậy, các chính phủ có thể làm gì khi thế giới hậu COVID bắt đầu nổi lên với nợ nần và lo ngại về những tác động môi trường của thương mại?

Vâng, cần phải có tư duy mới để chứng minh cho sự hoài nghi của công chúng rằng thương mại tự do là một cách hợp pháp để phục hồi sau COVID.

Điều này sẽ chỉ có thể thực hiện được nếu các cử tri tin tưởng rằng lợi ích của các FTA được trải đều hơn trong xã hội và không một nhóm cụ thể nào bị tổn hại bởi chúng.

Để lùi một bước, các chính phủ phíaBắc đang phải đối mặt với sự phản kháng đối với thương mại tự do từ hai mặt trận. Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách đang đấu tranh để duy trì sự ủng hộ đối với thương mại tự do giữa những người bị thất bại bởi toàn cầu hóa - như những người lao động có kỹ năng thấp làm việc trong lĩnh vực sản xuất.

Những ràng buộc nghiêm trọng về ngân sách sau COVID, tự động hóa và thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế đang tiếp tục làm gia tăng căng thẳng của các chính phủ trong việc giúp đỡ các ngành công nghiệp đang sa sút và hỗ trợ công nhân của họ.

Thứ hai, ngày càng có nhiều đứng lên chống lại những hành vi được xemlà vô nhân đạo và bất công của các tập đoàn đa quốc gia và các chế độ thường xuyên tham nhũng..

Các biện pháp bảo vệ lao động và môi trường lỏng lẻo (đặc biệt là ở các nước nghèo) là mối quan tâm lớn đối với các nhà phê bình thương mại tự do, những người muốn thương mại công bằng hơn.

Tuy nhiên 2 nhóm này sau đó đã củng cố lẫn nhau.

Nhóm đầu tiên cảm thấy áp lực cạnh tranh khi bị mất việc làm với mức lương thấp, gây ô nhiễm cho các nước láng giềng, trong khi nhóm thứ hai từ chối cạnh tranh quốc tế vì những lo ngại về xã hội và môi trường.

Kết quả là một vòng luẩn quẩn gây sụt giảm sự ủng hộ đối với nền tảng của toàn cầu hóa - thương mại tự do - các FTA.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng bao gồm các điều khoản về lao động và môi trường trong các hiệp định thương mại tự do có thể giúp thương mại tự do hoạt động cho tất cả mọi người và mang lại sự ủng hộ rộng rãi của công chúng.

Các điều khoản về lao động yêu cầu các bên ký kết FTA phải duy trì các tiêu chuẩn lao động cốt lõi bao gồm quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể; xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; xóa bỏ lao động trẻ em và xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.

Các điều khoản về môi trường phải yêu cầu các quốc gia ban hành luật và chính sách khuyến khích bảo vệ môi trường cũng như thực hiện các nghĩa vụ đối với các thoả thuận môi trường đa phương.

Các điều khoản về lao động và môi trường gần đây trong hầu hết các FTA Bắc-Nam (giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển), như USMCA mới thay thế NAFTA, có giá trị pháp lý ràng buộc và có hiệu lực thi hành.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các điều khoản này có hiệu quả trong việc thúc đẩy thay đổi chính sách lao động thực tế và môi trường ở các quốc gia đang phát triển, tùy thuộc vào việc đưa ra các mức độ chính xác của điều khoản.

Điều quan trọng là, các quy định xã hội này không chỉ cải thiện điều kiện lao động và môi trường ở phíaNam toàn cầu mà còn tác động đến quan điểm của mọi người về toàn cầu hóa ở phía Bắc và có thể tăng cường hỗ trợ cho thương mại tự do thông qua hai cơ chế riêng biệt.

Thứ nhất, một số xem các điều khoản xã hội như một hình thức bù đắp cho sự chênhlệch xã hội liên quan đến thương mại tự do.

Ngược lại với chi tiêu của chính phủ, nơi mà việc bồi thường theo truyền thống xảy ra sau khi phá sản, thì các điều khoản xã hội sẽ ‘bù đắp’ cho những người thua cuộc bởi toàn cầu hoá bằng cách ngăn chặn nó ngay từ đầu.

Họ san bằng sân chơi với chi phí thấp hơn, gây ảnh hưởng đến các đối tác thương mại phía Nam bằng cách cải thiện điều kiện lao động và môi trường của họ. Kết quả là, những người lao động có kỹ năng thấp ('kẻ thua cuộc' của toàn cầu hóa) ở các nước phía Bắc có nhiều khả năng ủng hộ thương mại tự do hơn nếu các biện pháp bảo vệ như vậy được đưa vào.

Ngoài ra, những cá nhân coi trọng sự công bằng toàn cầu, có khả năng ủng hộ thương mại tự do khi được đảm bảo rằng thành quả của nó được phân phối công bằng, các hành vi vi phạm nhân quyền tiềm ẩn được ngăn chặn và môi trường được bảo vệ.

Những người lao động có kỹ năng cao (bên thắng cuộc của toàn cầu hoá) ở các quốc gia phía Bắc được hỗ trợ nhiều hơn đối với thương mại tự do khi các FTA đượcbao gồm các điều khoản về lao động và môi trường.

Do áp lực lên ngân sách của chính phủ trong thế giới hậu COVID, những cách thay thế để giành được trái tim và khối óc của các cử tri, cũng như như các quy định xã hội này, có thể hấp dẫn về mặt chính trị.

Những tín hiệu ban đầu cho chúng ta thấy rằng, ngay cả đảng Cộng hòa Hoa Kỳ, theo truyền thống ít quan tâm đến việc liên kết các FTA với các điều khoản xã hội, cũngđang bắt đầu thấy được sức hấp dẫn chính trị của chúng và có lẽ sự cần thiết của những điều khoản này được thể hiện trong các điều khoản lao động mạnh hơn trong thỏa thuận NAFTA được đàm phán lại.

Điều này làm cho các điều khoản xã hội của FTA trở thành một trong số ít các tiêu điểm trong chương trình nghị sự thương mại nhận được sự ủng hộ thực sự của lưỡng đảng và các nhà hoạch định chính sách của Úc nên chú ý đến thông điệp này.

Cho thấy, có thể làm nhiều hơn nữa để thực thi các điều khoản hiện hành về lao động và môi trường trong các hiệp định hiện nay.

Việc đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn này yêu cầu cần được hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để thế giới phát triển, cũng như một chiến dịch thông tin giữa các cử tri ở các nước phía Bắc toàn cầu để nâng cao nhận thức của họ về toàn cầu hóa ‘được quản lý’.

Cuộc khủng hoảng COVID-19 tạo cơ hội thoát khỏi tình trạng phi toàn cầu hóa. Chúng ta có thể điều chỉnh lại các chính sách hiện có để duy trì thành quả của tự do hóa thương mại trong vài thập kỷ qua, trong khi nỗ lực thúc đẩy sự công bằng hơn giữa các xã hội.

Nguồn: Pursuit

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008797303
Go to top