JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnThị trườngSự trỗi dậy và sụp đổ của sự chuyển hướng kinh tế sang châu Á (Phần 1)

Sự trỗi dậy và sụp đổ của sự chuyển hướng kinh tế sang châu Á (Phần 1)

15 linh 22.08.2024

Washington đã chuyển từ chiến thuật tấn công kinh tế sang phòng thủ.

Trong hơn hai thế kỷ, châu Âu là khu vực ưu tiên của Mỹ. Tuy nhiên, vào năm 2011, chính quyền Cựu Tổng thống Obama đã công bố thay đổi định hướng chiến lược của Mỹ. Từ nay trở đi, châu Á sẽ là khu vực ưu tiên của Mỹ và Mỹ sẽ tập trung lại trọng tâm quân sự, ngoại giao và kinh tế vào khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Động thái chuyển hướng sang châu Á sẽ giúp khai thác động lực của châu Á, ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, chấm dứt các cuộc chiến tranh ở Trung Đông và hạn chế chi tiêu cho an ninh ở Châu Âu. Quan điểm này nhanh chóng giành được sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách ở cả hai đảng và các chính quyền sau đó của Mỹ.

Trong cuốn sách mới của chúng tôi, Thập kỷ mất mát: Sự chuyển hướng của Mỹ sang châu Á và sự trỗi dậy của sức mạnh Trung Quốc, đã chỉ rõ ra điều này, bao gồm cả khía cạnh kinh tế của nó. Việc tận dụng lời hứa về kinh tế của châu Á là chìa khóa cho cách tiếp cận trên. Đến năm 2008, tiềm năng kinh tế độc đáo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm 40% tăng trưởng toàn cầu. Đến đầu những năm 2010, khái niệm “thế kỷ Châu Á” đã trở nên phổ biến, chủ yếu ám chỉ sự dịch chuyển của nền kinh tế toàn cầu. Những người có liên quan tất nhiên muốn khai thác động lực này vì lợi ích của Mỹ.

Hầu hết các nhà hoạch định chính sách của Mỹ cũng đồng tình với khái niệm về mối qun hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và quản trị tự do, đặc biệt là ở Trung Quốc. “Khi chúng ta phát triển nền kinh tế của mình”, Tổng thống Barack Obama cho biết, “chúng ta cũng sẽ nhớ đến mối liên hệ giữa tăng trưởng và quản trị tốt về pháp quyền, các thể chế minh bạch, công lý bình đẳng. Bởi vì lịch sử cho thấy rằng, về lâu dài, dân chủ và tăng trưởng kinh tế song hành với nhau”. Để tham gia thành công vào thương mại, cần có các loại thể chế và hoạt động đặc trưng của chính phủ dân chủ, và tầng lớp trung lưu đang nổi lên cuối cùng sẽ đòi hỏi các quyền tự do cơ bản.

Chính quá trình tự do hóa thương mại của Châu Á cũng thúc đẩy lợi ích kinh tế của Mỹ. Đến đầu những năm 2010, khi các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu (thông qua Vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới) không đi đến đâu, các quốc gia trong khu vực ngày càng theo đuổi các thỏa thuận riêng của họ. Ví dụ, vào năm 2000, châu Á chỉ có ba hiệp định thương mại tự do có hiệu lực. Đến năm 2011, con số đã tăng vọt lên khoảng 50, và 80 hiệp định khác đang được tiến hành. Vào tháng 11 năm 2011, năm mà Mỹ công bố Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) lần đầu tiên xuất hiện tại Hội nghị Thượng đỉnh các nhà Lãnh đạo ASEAN ở Bali. Tuy nhiên, giữa sự náo nhiệt của hoạt động này, Mỹ đã bị gạt ra ngoài: Ngoại trừ Hiệp định Thương mại tự do Hàn Quốc, Mỹ không tham gia vào bất kỳ thỏa thuận nào trong số này. Nhiều nhà hoạch định chính sách nghĩ rằng đã đến lúc phải tham gia vào sân chơi này, nếu không sẽ bị bỏ lại phía sau.

Động lực cuối cùng của sự chuyển hướng kinh tế xoay quanh sức hút kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc. Năm 2001, hơn 80% các quốc gia có khối lượng thương mại với Mỹ lớn hơn Trung Quốc. Đến năm 2018, con số đó đã giảm xuống chỉ còn chưa đầy 30%. Năm 2023, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại hàng đầu của khoảng 120 quốc gia trên thế giới. Sự thay đổi này đặc biệt rõ rệt ở Châu Á.

Trong hơn một thập kỷ kể từ khi công bố chuyển hướng chiến lược, thành phần kinh tế của chiến lược đã thay đổi hoàn toàn. Lúc đầu, chính sách của Mỹ tìm cách khai thác cơ hội thông qua một loạt các thỏa thuận kinh tế với nhiều quốc gia, ưu tiên hàng đầu là Hiệp định Thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) toàn khu vực. Theo đó sẽ giúp tiếp cận tốt hơn với các thị trường Châu Á, đảm bảo sự lãnh đạo lâu dài của Mỹ trong khu vực và tạo ra các giải pháp thay thế khi sức nặng kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc.

Tuy nhiên, hầu như tất cả những nỗ lực đó đều thất bại theo thời gian, và Mỹ thay vì chú trọng vào chính sách nhằm mở cửa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư, và giảm rào cản thương mại tại khu vực Thái Bình Dương thì đang ngày càng nỗ lực phòng thủ, tập trung vào việc giảm rủi ro an ninh quốc gia liên quan đến các hoạt động kinh tế của Trung Quốc. Thay vì chú trọng vào các hiệp định thương mại và khuôn khổ đầu tư, trọng tâm chính sách của Mỹ chuyển sang kiểm soát xuất khẩu, sàng lọc đầu tư, thuế quan, chính sách công nghiệp trong nước và các biện pháp trừng phạt. Sự chuyển dịch sang nỗ lực phòng thủ này, nhằm mục đích giảm rủi ro từ Trung Quốc thay vì nắm bắt cơ hội tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương sẽ tạo ra một cách tiếp cận kinh tế đối với châu Á hoàn toàn khác so với quan điểm ban đầu.

Hiệp định TPP bắt đầu vào năm 2005 như một hiệp định thương mại với số lượng thành viên khiêm tốn, bao gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Đến năm 2011, số lượng thành viên đã mở rộng. Ngoại trưởng Hillary Clinton đã viết: “Hy vọng của chúng tôi là một thỏa thuận TPP với các tiêu chuẩn cao có thể đóng vai trò là chuẩn mực cho các thỏa thuận trong tương lai - và phát triển thành nền tảng cho tương tác khu vực rộng lớn hơn và cuối cùng là một khu vực thương mại tự do của Châu Á - Thái Bình Dương”. Theo thời gian, TPP sẽ trở thành cốt lõi trong sự chuyển hướng của Mỹ sang Châu Á.

Lý giải cũng dễ hiểu thôi. TPP hứa hẹn sẽ phục vụ đồng thời nhiều mục tiêu của Mỹ. Nó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm trong nước. Thỏa thuận này sẽ bảo vệ các quy tắc do Mỹ soạn thảo và hỗ trợ, bao gồm cả trong các lĩnh vực kinh tế mới như thương mại kỹ thuật số và sở hữu trí tuệ. TPP tăng cường hiệu suất kinh tế của các đồng minh và đối tác quan trọng của Mỹ và gắn kết họ chặt chẽ hơn với nhau. Hơn hết, thỏa thuận này sẽ gửi đi một tín hiệu về sự lãnh đạo và hiện diện bền vững của Mỹ tại Châu Á. Chính sách kinh tế ở Thái Bình Dương là chính sách đối ngoại và sự lãnh đạo khu vực của Mỹ là điều không thể tưởng tượng được nếu không có vai trò thống trị về thương mại và đầu tư. TPP sẽ hỗ trợ điều đó.

Theo thời gian, TPP đã vượt qua lý lẽ kinh tế của nó, và tập trung nhiều hơn vào Trung Quốc khi các quan chức chuyển từ giai đoạn đàm phán sang giai đoạn tiếp cận trong nước. Cựu Tổng thống Obama lập luận rằng hiệp ước này “củng cố mối quan hệ chiến lược của chúng ta với các đối tác và đồng minh”, “trong khu vực sẽ đóng vai trò quan trọng đối với thế kỷ 21”. Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter cho biết việc thông qua TPP cũng quan trọng đối với ông. Đến cuối nhiệm kỳ của chính quyền Obama, TPP không chỉ trở thành sáng kiến ​​kinh tế nổi bật nhất của Washington mà còn là trụ cột của sự xoay trục sang châu Á.

Tuy nhiên, chính trị thương mại trong nước còn rất khó khăn. Thỏa thuận TPP ban đầu thu hút được sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo chính trị ở cả hai đảng. Tuy nhiên, đến năm 2016, sự phản đối ngày càng tăng. Các cuộc khảo sát ý kiến ​​của Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy tỷ lệ người Mỹ có quan điểm tích cực về các hiệp định thương mại đã giảm từ 58% vào tháng 5 năm 2015 xuống còn 45% vào tháng 10 năm 2016. Ngay cả Clinton, người từng là ngoại trưởng đã ủng hộ TPP là yếu tố quan trọng đối với sự xoay trục sang châu Á, cũng đã tuyên bố phản đối. Vào ngày đầu tiên nhậm chức, Cựu Tổng thống Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp rút Mỹ khỏi TPP, khi ông mô tả là “một thảm họa tiềm tàng đối với đất nước”. Đối với Mỹ, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã thất bại và nó sẽ không được hồi sinh.

(Còn tiếp)

Nguồn: Foreign Policy

Từ khóa: Mỹ, Trung Quốc, chính sách kinh tế

 

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008790467
Go to top