
Hôm 14 tháng 5, Mỹ đã tăng mạnh thuế quan lên 18 tỷ USD hàng hoá Trung Quốc đối với nhiều lĩnh vực, bao gồm xe điện, pin mặt trời và chất bán dẫn.
Mức thuế mới dao động từ 25% đến 100%. Có thể xem đây là nỗ lực nhằm kìm hãm một số ngành công nghiệp ở Trung Quốc.
Trước đây, Mỹ đã giả vờ giữ cam kết với “Tầm nhìn San Francisco” bằng các chuyến thăm Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen. Tuy nhiên, cả hai người đều chỉ ra vấn đề gọi là “tình trạng dư thừa công suất”. Họ xem đây như một mối lo ngại trong chuyến thăm của họ. Điều này chính là nền móng của việc Mỹ quyết định tăng thuế.
Các nhà kinh tế ở Trung Quốc và cả quốc tế, bao gồm các chuyên gia đến từ Mỹ đều đưa ra những bằng chứng cho thấy tình trạng dư thừa công suất, nhưng phía Nhà Trắng vẫn không ngừng tăng thuế, thậm chí còn sử dụng báo cáo đánh giá điều tra Mục 301 của Đạo Luật Thương mại 1974 để đưa ra lời biện hộ cho hành vi này.
Đây là minh chứng rõ ràng cho chủ nghĩa bảo hộ thương mại, cho thấy cách Mỹ khái quát hóa khái niệm an ninh quốc gia và quốc tế hóa sự tranh chấp giữa các đảng phái trong nước.
Mặc dù đã chuẩn bị cho kịch bản trên, nhưng điều quan trọng là Trung Quốc phải phân tích mọi thứ thật kỹ lưỡng và đưa ra cách ứng phó. Xét đến việc Mỹ đang áp thuế tới mức 100% đối với các sản phẩm của Trung Quốc, phía Trung Quốc phải đánh giá xem liệu khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng sẽ suy yếu đáng kể hay vẫn có thể trụ vững, từ đó hành động tăng thuế của Mỹ sẽ trở nên vô ích.
Trước hết, việc Mỹ tăng thuế là biểu hiện rõ ràng của chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Đối mặt với khả năng cạnh tranh ngày càng yếu thế trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, phương tiện sử dụng năng lượng tái tạo và dược phẩm, Mỹ đã gia tăng hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm ngăn chặn các doanh nghiệp Trung Quốc, đồng thời làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Trung Quốc, tất cả nhằm mục đích bảo vệ các ngành công nghiệp của Mỹ.
Tuy nhiên, khoảng 5 năm trước, Mỹ đã tăng thuế nhập khẩu bổ sung từ 5% đến 25% đối với các sản phẩm Trung Quốc trị giá hơn 250 tỷ USD - bao gồm thép và nhôm – nhưng vẫn không thể gia tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp nước này. Điều này đã không giúp Mỹ tái công nghiệp hoá, cũng như không đạt được mục tiêu đưa chuỗi công nghiệp và cung ứng dịch chuyển gần hơn về phía mình hoặc các quốc gia đồng minh.
Mỹ đã chính trị hóa, vũ khí hóa và công cụ hóa các vấn đề kinh tế và thương mại một cách phổ biến. Trong nỗ lực bảo đảm thắng lợi bầu cử, Đảng Dân chủ ở Mỹ đã dùng mọi biện pháp ngăn chặn. Sau khi Cựu Tổng thống Donald Trump tuyên bố sẽ đánh thuế 60% đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc nếu đắc cử, chính quyền Biden đã sử dụng chiến thuật “con bài Trung Quốc”, chiếm lấy vị thế chủ động và quyết liệt áp mức thuế cao đối với phía Bắc Kinh, với lý do “dư thừa năng lực”,và cho rằng Trung Quốc đã không đáp ứng các điều khoản của báo cáo điều tra Mục 301.
Bằng cách đặt các ngành công nghiệp và năng lực sản xuất vào các mối lo ngại về chính trị và an ninh quốc gia, Mỹ đặt mục tiêu trấn áp toàn diện Trung Quốc thông qua mức thuế cao. Chiến thuật này cũng được Biden sử dụng trong mùa tranh cử hiện tại, trong khi các chiến lược khác đã thất bại.
Tuy nhiên những động thái nàynhư con dao hai lưỡi đối với Mỹ. Vì các quốc gia hiện nay vẫn luôn hợp tác với nhau, và không quốc gia nào có thể phát triển mạnh mẽ nếu bị cô lập. Bất kỳ quốc gia nào tìm cách đàn áp quốc gia khác chắc chắn sẽ gây hại cho chính mình.
Trong 5 năm qua, người tiêu dùng ở Mỹ phải gánh chịu các mức thuế bổ sung mà phía Nhà Trắng áp lên hàng hóa Trung Quốc. Điều này đã dẫn đến tỷ lệ lạm phát kinh khủng lên tới 9,1% trong nước, một con số chưa từng thấy trong 4 thập kỷ qua và thậm chí còn lan sang châu Âu.
Trừ khi Mỹ thực hiện các biện pháp quyết liệt để giảm thuế, nếu không quốc gia này sẽ rất khó kiềm chế lạm phát. Nếu lạm phát không được kiểm soát sẽ gây khó khăn cho việc hạ lãi suất, dẫn đến nợ nần liên tục và rủi ro tài chính.
Hơn nữa, việc Mỹ lấy lí do để gây áp lực với Trung Quốc thông qua vấn đề “dư thừa công suất” không những không có căn cứ mà còn gây bất lợi cho chính Mỹ.
Mỹ cho rằng Trung Quốc có xảy ra tình trạng “dư thừa công suất”. Tuy nhiên, ngay cả Yellen, một nhà kinh tế học, cũng không đồng ý với quan điểm này. Trong chuyến thăm tới Trung Quốc, cô đã nhiều lần bị giới truyền thông nước này chỉ trích về chủ đề này. Mỗi lần như vậy, cô ấy đều thấy không thoải mái. Đây chính là hậu quả của việc thêu dệt những câu chuyện không đúng sự thật - một câu chuyện mà ngay cả cô ấy dường như cũng không thể tin nổi.
Trung Quốc không hềgặp phải vấn đề dư thừa công suất xe NEV. Câu chuyện về tình trạng dư thừa công suất chỉ xuất phát từ thực tế là NEV của Trung Quốc có tính cạnh tranh đặc biệt, vượt trội so với các ngành công nghiệp ngang hàng ở một số quốc gia khác, do đó được coi là trạng thái “dư thừa công suất”.
Nếu so sánh trên phương diện quốc tế, khối lượng xuất khẩu xe NEV của Trung Quốc chiếm chưa đến 15% tổng sản lượng. Ngược lại, 75% xe sản xuất tại Đức được xuất khẩu, trong khi con số tương ứng của Hàn Quốc và Nhật Bản lần lượt là 70% và 50%.
Trong ngành công nghiệp ô tô, nơi mà sự phân công lao động toàn cầu ngày càng trở nên phức tạp, việc thảo luận về vấn đề dư thừa công suất đối với xe NEV của Trung Quốc về cơ bản là mâu thuẫn với các nguyên tắc kinh tế và hoàn cảnh thực tế. Các hành động dựa trên báo cáo điều tra Mục 301 nhằm tăng thuế từ lâu của Mỹ đã bị WTO coi là bất hợp pháp.
Các chiến thuật hiện tại của Mỹ có nét tương đồng với những gì họ đã làm trong quá khứ, tuy nhiên kết quả mang lại hoàn toàn khác. Về cốt lõi, Mỹ đang cố gắng tái tạo chiến lược chiến tranh thương mại chống lại Nhật Bản từ nhiều thập kỷ trước để gây áp lực lên Trung Quốc.
Cuối thế kỷ trước, khi vị thế kinh tế của Nhật Bản gần như ngang hàng với Mỹ, Mỹ đã phát động một cuộc chiến thương mại áp thuế 100% đối với một số sản phẩm có chọn lọc của Nhật Bản. Mỹ giờ đây tỏ ra rất háo hức khi tái hiện “chiến thắng” của cuộc chiến thương mại Mỹ-Nhật, với hy vọng giành lại những gì có được trong quá khứ.
Tuy nhiên, Mỹ dường như không quan tâm tới cục diện thực tế đã thay đổi. Ngoài những khác biệt rõ ràng về hệ thống chính trị và quy mô thị trường giữa Trung Quốc và Nhật Bản, tình hình kinh tế toàn cầu đang trải qua những biến đổi chưa từng thấy trong một thời gian dài, với cuộc chạy đua chóng mặt về sự đổi mới công nghệ.
Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của hơn 120 quốc gia. Không những vậy, Sáng kiến Vành đai và Con đường còn thu hút sự tham gia của hơn 150 nền kinh tế và hơn 30 tổ chức quốc tế. Trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế lan rộng, chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa đơn phương chắc chắn sẽ phản tác dụng.
Hơn thế nữa, Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược tăng trưởng đổi mới, tiên phong đổi mới công nghiệp bằng những đột phá khoa học và củng cố lực lượng sản xuất. Trong hơn một thập kỷ, Trung Quốc đã đứng đầu danh sách đăng ký bằng sáng chế toàn cầu, với mức đầu tư cho R&D vượt 2,64% GDP.
Các hành động của Mỹ nhằm chống lại Trung Quốc có thể là chất xúc tác cho quá trình đổi mới công nghệ theo cách hoàn toàn độc lập, chuyển mô hình thương mại toàn cầu sang “công nghệ Trung Quốc” cộng với “thị trường toàn cầu”.
Từ góc độ lý thuyết, cách tiếp cận tách rời và giảm thiểu rủi ro của Mỹ sẽ chỉ dẫn đến sự cô lập của chính họ, thay vì đạt được thành công thông qua việc chèn épquốc gia khác.
Dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ, Mỹ vẫn kiên trì áp dụng thuế quan bổ sung đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, những biện pháp như vậy cuối cùng cũng chẳng mang lại hiệu quả.
Mỹ chưa bao giờ là thị trường mục tiêu chính của xe NEV mà Trung Quốc nhắm đến. Đồng thời những hành động như thế này sẽ đẩy nhanh sự suy thoái của Mỹ so với các đối tác thương mại của Trung Quốc.
Việc áp dụng mức thuế cao có thể gây ra các biện pháp đối phó toàn diện từ các doanh nghiệp và ngành công nghiệp Trung Quốc, bao gồm cả hành động pháp lý. Các trường hợp riêng lẻ sẽ được xử lý bằng các công cụ pháp lý, trong khi ở cấp độ ngành, các khiếu nại và giải pháp sẽ được thực hiện thông qua WTO.
Theo trang web chính thức của WTO, Mỹ là bị đơn trong nhiều vụ kiện hơn hầu hết các nước EU cộng lại và phần lớn là bên thua trong các tranh chấp này.
Trung Quốc có thể trỗi dậy khi gặp phải sự đàn áp như vậy. Trước động thái của Mỹ, doanh nghiệp chúng ta cần có những biện pháp chủ động và hiệu quả.
Ngoài việc nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp Trung Quốc còn phải sử dụng các công cụ pháp lý và thương mại để bảo vệ lợi ích của mình. Điều cần thiết là họ phải tích cực tham gia vào việc xây dựng các quy tắc.
Nguồn: Chinadaily
Từ khóa: Mỹ, Trung Quốc, tăng thuế suất, dư thừa công suất
Các tin khác
- Nền kinh tế Ấn Độ tăng tốc - 24/06/2024
- Kim ngạch thương mại Việt Nam - Chile tăng trưởng mạnh sau 10 năm thực thi FTA - 21/06/2024
- Cuộc chiến thương mại - 'Con dao hai lưỡi' với Trung Quốc và EU - 20/06/2024
- Doanh nghiệp gỗ quay cuồng với chi phí tăng - 20/06/2024
- Dự báo nào cho xuất khẩu tôm tại 5 thị trường lớn? - 18/06/2024






















