
Trong 2 tháng đầu năm 2025, các thị trường xuất khẩu nông sản chính của Việt Nam đều có sự tăng trưởng trong khi thị trường Trung Quốc giảm, đặc biệt rau quả, hạt điều, sắn… giảm khá sâu.
Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 8,3%
Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu (XK) nông lâm thủy sản (NLTS) 2 tháng đầu năm 2025 đạt 9,38 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2024.
Trong đó, giá trị XK các mặt hàng nông sản đạt 4,89 tỷ USD, tăng 4,5%; giá trị XK sản phẩm chăn nuôi đạt 72,2 triệu USD, tăng 4%; giá trị XK thủy sản đạt 1,42 tỷ USD, tăng 18,6%; giá trị XK lâm sản đạt 2,68 tỷ USD, tăng 11,9%; giá trị XK đầu vào sản xuất đạt 307,6 triệu USD, giảm 0,2%; giá trị XK muối đạt 1,4 triệu USD, tăng 2 lần.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường XK lớn nhất của các mặt hàng NLTS của Việt Nam với thị phần chiếm 42,2%. 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 24,2% và 15,5%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,9% và 1,4%.
So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị XK NLTS của Việt Nam 2 tháng đầu năm 2025 sang khu vực châu Á giảm 1,6%; châu Mỹ tăng 19,8%; châu Âu tăng 22,3%; châu Phi tăng 2,2 lần; và châu Đại Dương tăng 8,2%.
Xét theo thị trường chi tiết, Hoa Kỳ với thị phần 22%, Trung Quốc với thị phần 17,8%, và Nhật Bản với thị phần 7,7%, là 3 thị trường XK các mặt hàng NLTS lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị XK NLTS của Việt Nam 2 tháng đầu năm 2025 sang thị trường Hoa Kỳ tăng 18,9%, Trung Quốc giảm 4,3%, và Nhật Bản tăng 19,1%.
Nhiều mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh
Trong số các mặt hàng XK chủ lực, duy nhất chỉ ghi nhận mặt hàng hàng thủy sản XK sang Trung Quốc tăng mạnh so với cùng kỳ với mức tăng 80,8%.
Theo đó tổng giá trị XK hàng thủy sản 2 tháng đầu năm 2025 đạt 1,42 tỷ USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2024. Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 23,3%, 15,5% và 13,8%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị XK hàng thủy sản tháng 1/2025 sang thị trường Trung Quốc tăng 80,8%, trong khi thị trường Nhật Bản giảm 7,6%, thị trường Hoa Kỳ giảm 3,5%. Trong nhóm 15 thị trường XK lớn nhất, giá trị XK hàng thủy sản tăng mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức tăng 80,8% và giảm mạnh nhất ở thị trường Hồng Kông với mức giảm 22,9%.Ngoài thủy sản, nhiều mặt hàng XK sang thị trường tỷ dân có mức giảm khá sâu.
Đầu tiên phải kể đến là cao su, 2 tháng đầu năm 2025 XK mặt hàng này đạt 280,6 nghìn tấn và 532,9 triệu USD, giảm 5,9% về khối lượng nhưng tăng 24,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 78,1%. Hai thị trường lớn tiếp theo là Malaysia và Indonesia có thị phần lần lượt là 3,4% và 2,7%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị XK cao su tháng 1/2025 sang thị trường Trung Quốc chỉ tăng nhẹ 0,1%, trong khi thị trường Malaysia tăng 9,4 lần, thị trường Indonesia tăng 2,5 lần.
XK rau quả là điểm sáng của năm 2024, tuy nhiên 2 tháng đầu năm tổng giá trị XK hàng rau quả chỉ đạt 724,5 triệu USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2024. Mặt hàng rau quả của Việt Nam chủ yếu được XK sang thị trường Trung Quốc với tỷ trọng giá trị XK chiếm 46,5%. Hai thị trường XK rau quả lớn tiếp theo là Hoa Kỳ và Thái Lan với tỷ trọng giá trị XK lần lượt là 8,3% và 5,3%.
Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, giá trị XK hàng rau quả tháng 1/2025 sang thị trường Trung Quốc giảm 42,9%, trong khi thị trường Hoa Kỳ tăng 38,8%, thị trường Thái Lan tăng 5,4%. Trong nhóm 15 thị trường XK lớn nhất, giá trị XK hàng rau quả tăng mạnh nhất ở thị trường Anh với mức tăng 57% và giảm mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức giảm 42,9%.
Trong số các mặt hàng nông sản, hạt điều là mặt hàng có khối lượng và giá trị XK giảm mạnh trong 2 tháng đầu năm với mức giảm tương ứng 31,8% và 13,7%.
Hoa Kỳ, Hà Lan và Trung Quốc là 3 thị trường tiêu thụ hạt điều lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 21,7%, 11,8% và 7,1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị XK hạt điều tháng 1/2025 sang thị trường Hoa Kỳ giảm 32,5%, thị trường Trung Quốc giảm 76,8%, trong khi thị trường Hà Lan tăng 23,5%. Trong nhóm 15 thị trường XK lớn nhất, giá trị XK hạt điều tăng mạnh nhất ở thị trường Pháp với mức tăng 29,9% và giảm mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức giảm 76,8%.
Đặc biệt, mặt hàng sắn và các sản phẩm từ sắn. Mặt hàng này chủ yếu được XK sang thị trường Trung Quốc khi thị trường này chiếm tới 93,3% thị phần. Đài Loan là thị trường tiêu thụ lớn thứ hai với thị phần nhỏ, chiếm 1,5%.
2 tháng đầu năm 2025, sắn và sản phẩm từ sắn XK đạt 695,9 nghìn tấn và 227,7 triệu USD, tăng 10,4% về khối lượng nhưng giảm 21% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. So với cùng kỳ năm trước, giá trị XK sắn và các sản phẩm từ sắn tháng 1/2025 sang thị trường Trung Quốc giảm 49,3%, thị trường Đài Loan giảm 46,3%…
Với gỗ và sản phẩm gỗ, 2 tháng đầu năm tổng kim ngạch XK mặt hàng này đạt 2,52 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2024. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc là 3 thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt là 55%, 11,7% và 9,8%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị XK gỗ và sản phẩm gỗ tháng 1/2025 sang thị trường Hoa Kỳ giảm 4,8%, thị trường Trung Quốc giảm 17,5%, trong khi thị trường Nhật Bản tăng 2,8%...
Nguồn: Nhà đầu tư
Từ khoá: xuất khẩu, nông lâm thuỷ sản, Châu Á, Trung Quốc
Các tin khác
- Doanh nghiệp Việt giữa “làn sóng” dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu (Bài 3) - 04/03/2025
- Các dự báo về tăng trưởng GDP năm 2025 của Việt Nam - 04/03/2025
- Trong thế giới đầy biến động - Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam: Những diễn biến kinh tế, chính trị toàn cầu đáng chú ý trong năm 2025 (Bài 1) - 04/03/2025
- Cách nào để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao? Bài 2: Để vốn FDI đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế - 04/03/2025
- Đánh thức khu vực kinh tế bị bỏ quên - 03/03/2025






















