
Theo BVR Subrahmanyam, Giám đốc điều hành của Viện NITI Aayog, cơ quan tư vấn chính sách công hàng đầu của Chính phủ Ấn Độ, “Ấn Độ nên tham gia vào Hiệp định RCEP và CPTPP”.
Phát biểu trong chương trình đối thoại với Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (Assocham), ông Subrahmanyam cho rằng việc tham gia vào các khối thương mại khu vực châu Á “sẽ mang về nhiều lợi ích nhất cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ (MSMEs) của Ấn Độ. 40% xuất khẩu của Ấn Độ đến từ MSMEs chứ không phải từ các tập đoàn lớn”.
Giám đốc điều hành của NITI Aayog cũng cho rằng, thuế quan cao đã khiến Ấn Độ không thu hút được các doanh nghiệp toàn cầu, trong bối cảnh các doanh nghiệp này đang rời khỏi Trung Quốc và di chuyển sang quốc gia khác nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng - sản xuất. Ông cho biết “Mặc dù Ấn Độ có được nhiều lợi thế từ chính sách “Trung Quốc + 1” nhưng có vẻ chúng ta chưa nắm bắt tốt cơ hội này”.
Chính phủ Ấn Độ đã tham gia các cuộc đàm phán trong suốt tiến trình thành lập RCEP, một hiệp định thương mại tự do gồm 15 thành viên ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và có quy mô lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ đã quyết định không tham gia RCEP vì cho rằng hiệp định sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp và ngành nông nghiệp của nước này.
Nhưng quan điểm của New Delhi dường như đang thay đổi khi thương mại toàn cầu bước vào một kỷ nguyên mới đầy bất ổn.
Hiệp định RCEP có hiệu lực vào tháng 01 năm 2022. Sự tham gia sớm của Ấn Độ trong tiến trình thành lập RCEP đã bác bỏ quan niệm rằng RCEP là do Trung Quốc dẫn dắt nhằm thực hiện các quy tắc thương mại quốc tế theo hướng có lợi cho Bắc Kinh. Trên thực tế, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) vào tháng 8 năm 2011, Nhật Bản và Trung Quốc đã đề xuất “Sáng kiến thúc đẩy Hiệp định thương mại tự do Đông Á (EAFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA)”. Hội nghị này cũng là nơi đầu tiên mà RCEP được đưa ra để thảo luận.
Tất cả quốc gia tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều tham gia vào tiến trình đàm phán RCEP và ký kết hiệp định vào ngày 15/11/2020, trừ Ấn Độ. Hiệp định RCEP bao gồm các quốc gia thành viên: Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, New Zealand, Philippines, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Hiệp định RCEP xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 90% nhóm hàng trong vòng 20 năm và thiết lập các tiêu chuẩn, quy định chung về hải quan, đầu tư, sở hữu trí tuệ và thương mại điện tử. Hiệp định chiếm khoảng 30% của tổng sản phẩm nội địa GDP toàn cầu, là hiệp định đầu tiên mà Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc cùng tham gia.
Chính phủ New Zealand đã tóm tắt những lợi ích của RCEP như sau:
- Thiết lập bộ quy tắc chung hài hòa và chặt chẽ về thương mại và đầu tư trên toàn khu vực RCEP.
- Mang lại cơ hội cho các nhà xuất khẩu New Zealand để họ đưa sản phẩm vào chuỗi giá trị khu vực toàn diện của RCEP.
- Mở ra cơ hội tiếp cận thị trường, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ và đầu tư vào thị trường Trung Quốc và một số quốc gia thành viên ASEAN.
- Thủ tục hành chính được đơn giản hóa và cải thiện môi trường kinh doanh cho các nhà xuất khẩu
- Các quy tắc mới về mua sắm công, chính sách cạnh tranh và thương mại điện tử mang lại nhiều cơ hội kinh doanh hơn cho các nhà xuất khẩu của New Zealand.
RCEP cũng có thể mang lại lợi ích tương tự cho Ấn Độ.
CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) là một hiệp định thương mại tự do gồm 11 quốc gia thành viên nằm xung quanh khu vực Thái Bình Dương: Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.
CPTPP thay thế cho Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vốn do Hoa Kỳ dẫn dắt và phát triển dưới thời Tổng thống Barack Obama. Hoa Kỳ đã rút khỏi TPP vào tháng 1 năm 2017 dưới thời Tổng thống Donald Trump. Hiệp định CPTPP đã chính thức có hiệu lực vào cuối tháng 12 năm 2018.
Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF) được chính phủ Hoa Kỳ giới thiệu là một giải pháp thay thế cho CPTPP. IPEF đặt ra nhiều mục tiêu tham vọng nhưng thiếu các giải pháp để giảm thuế quan và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ cho 13 thành viên khác: Úc, Brunei, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. IPEF được ra mắt vào tháng 5 năm 2022.
Theo Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), IPEF sẽ thúc đẩy sự phục hồi kinh tế, tăng trưởng bền vững, cạnh tranh và công bằng cho nền kinh tế các quốc gia. Bằng cách tham gia vào sáng kiến này, các đối tác IPEF hướng tới mục tiêu cùng hợp tác, phát triển, ổn định, thịnh vượng để xây dựng một khu vực hòa bình.
Theo USTR, điều này sẽ được thực hiện thông qua “…các cuộc đàm phán trên các trụ cột sau: I - Thương mại, II - Chuỗi cung ứng, III – Kinh tế sạch và IV – Kinh tế công bằng. IPEF được thiết kế linh hoạt, không bắt buộc các đối tác phải tham gia cả bốn trụ cột”. Cả Ấn Độ và Trung Quốc đều chưa tham gia.
Sau đó, vào tháng 11 năm 2023, Tổng thống Biden đã bỏ trụ cột I - Thương mại của IPEF. Và giờ đây, Tổng thống mới đắc cử Donald Trump có kế hoạch sẽ tăng thuế, không chỉ với sản phẩm của Trung Quốc mà còn trên diện rộng.
Robert Lighthizer, Cựu Đại diện Thương mại Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Trump và có thể sẽ quay lại trong nhiệm kỳ thứ hai, đã giải thích về sự chuyển hướng sang chủ nghĩa bảo hộ của lưỡng đảng Hoa Kỳ trong một bài viết được đăng trên Financial Times ngày 01/11 vừa qua: “Trong ba thập kỷ qua, chúng ta đã mất hàng triệu việc làm, phần lớn là các công việc sản xuất lương cao. Mức lương trung bình không tăng, nhiều nhà máy trên khắp Hoa Kỳ đã bị đóng cửa. Trong hàng thập kỷ qua, mỗi năm Hoa Kỳ đều thâm hụt thương mại rất lớn. Chúng ta đã chi trả hàng ngàn tỷ USD cho các sản phẩm từ nước ngoài xuất khẩu vào trong nước, làm dòng tiền chảy ra ngoài và giảm lượng của cải của quốc gia. Chúng ta cũng mất đi khả năng đổi mới sản xuất trong tương lai”.
Sau khi so sánh giữa các quốc gia có chính sách tự do hóa thương mại và các quốc gia có chính sách bảo vệ nền công nghiệp, Lighthizer kết luận rằng “Các nền kinh tế có thặng dư thương mại lớn thường là các quốc gia có biện pháp bảo hộ thương mại cao. Còn những quốc gia khác như Hoa Kỳ thì thường xuyên bị thâm hụt thương mại”.
Mặc dù các chính sách công nghiệp là mấu chốt cho sự phát triển kinh tế, nâng cao mức sống tại Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... nhưng việc Hoa Kỳ thuê các nhà cung cấp nước ngoài với giá rẻ cũng đã mang lại nhiều lợi nhuận về cho nước này như tăng giá cổ phiếu, tăng trưởng kinh tế.
Hơn nữa, trong quá khứ, Hoa Kỳ đã từng sử dụng biện pháp bảo hộ thương mại như áp dụng hàng rào thuế quan lên đến 40%. Không giống như các công cụ phi thị trường là hạn ngạch và lệnh trừng phạt, thuế quan là một công cụ thị trường nhằm điều chỉnh giá cả. Tóm lại là, Tổng thống Trump đã đưa ra quyết định của mình và các quốc gia khác phải thích nghi theo.
Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ năm thế giới (tính theo tổng giá trị GDP bằng USD), dưới Nhật Bản và trên Vương quốc Anh, nhưng là nền kinh tế lớn thứ ba (tính theo sức mua tương đương), chỉ sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Theo The Economist Intelligence Unit, Ấn Độ đang vượt qua tất cả các nước với GDP dự kiến tăng 6,9% trong năm nay.
Với dân số gấp hơn bốn lần dân số Hoa Kỳ, Ấn Độ cuối cùng có thể thay thế Hoa Kỳ trở thành thị trường có nhu cầu tiêu thụ hàng hóa lớn. Nếu Ấn Độ tham gia vào các hiệp định thương mại khu vực, các công ty Ấn Độ cũng sẽ có cơ hội tiếp cận được nhiều thị trường mới.
Nguồn: Asia Times
Từ khóa: Ấn Độ, Hoa Kỳ, bảo hộ thương mại, RCEP
Các tin khác
- Cần chính sách trợ lực cho doanh nghiệp phát triển theo hướng tuần hoàn - 11/12/2024
- Sự chuyển hướng chính sách tiền tệ của Trung Quốc - 11/12/2024
- Doanh nghiệp Việt chưa tận dụng hết lợi thế từ các FTA - 11/12/2024
- Tiến tới chiến lược liên kết, hợp tác nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng và giá trị - 11/12/2024
- Phát triển bền vững và tăng trưởng xanh: Xu thế, cơ hội cho doanh nghiệp - 11/12/2024






















