
Các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với thương mại và hoạt động tài chính đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Bài viết này phát triển một mô hình về thương mại quốc tế và xung lực kinh tế vĩ mô để nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp trừng phạt cấm vận thương mại đối với một số hàng hóa và/hoặc với một số chủ thể nhất định. Cả trừng phạt thương mại và tài chính đều dẫn đến phúc lợi thấp hơn cho nền kinh tế bị trừng phạt, bất kể biến động tỷ giá hối đoái và sau khi xem xét ảnh hưởng đến các nước thứ ba. Tuy nhiên, các biện pháp trừng phạt có thể được thực hiện hiệu quả hơn, ví dụ như bằng cách buộc nền kinh tế bị trừng phạt phải phân bổ lại nguồn lực sang các lĩnh vực mà họ đang gặp bất lợi và bằng cách phối hợp với các nước thứ ba.
Những thách thức địa chính trị lớn đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể việc sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế, và xu hướng gần đây vượt xa số lượng các trường hợp trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Các biện pháp trừng phạt do các quốc gia phương Tây áp đặt đối với Nga sau cuộc xâm lược Ukraine đánh dấu một cột mốc khác, với những hạn chế chưa từng có và rộng rãi đối với các hoạt động thương mại và tài chính.
Có hai điểm khác biệt đáng chú ý trong các biện pháp trừng phạt đối với Nga. Đầu tiên, chúng thể hiện sự chuyển đổi từ cấm vận toàn diện sang các hạn chế nhắm đến các tác nhân, thực thể, lĩnh vực và hàng hóa cụ thể. Điều này phản ánh sự khác biệt trong quyết định nên giao dịch bao nhiêu hoặc có nên giao dịch hay không, ở cấp độ hàng hóa hoặc tài sản riêng lẻ, và/hoặc với các thực thể riêng lẻ. Thứ hai, Nga là một nền kinh tế lớn, và là nhà sản xuất khí đốt và dầu mỏ lớn. Sự hội nhập sâu rộng của Nga vào chuỗi giá trị toàn cầu cho đến khi xâm lược Ukraine cho thấy tầm quan trọng của sự phụ thuộc giữa các nước như một yếu tố quyết định đến ảnh hưởng của các biện pháp trừng phạt, và khả năng chúng gây ra những hậu quả ngoài ý muốn đối với cả những quốc gia áp đặt chúng.
Trong bối cảnh hiện tại, việc đánh giá tác động của các biện pháp trừng phạt đòi hỏi một khuôn khổ mới, xem xét những khác biệt quan trọng. Các mô phỏng từ khuôn khổ cho thấy các biện pháp trừng phạt có thể gây tổn hại cho quốc gia bị áp đặt, dù tỷ giá hối đoái có tăng hay giảm. Thậm chí, quốc gia bị trừng phạt vẫn chịu thiệt hại ngay cả khi họ chuyển hướng nhập khẩu và xuất khẩu sang các nước thứ ba khác."
Một khuôn khổ để mô hình hóa các biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế
Chúng tôi xây dựng một mô hình về thương mại quốc tế và động lực kinh tế vĩ mô để nghiên cứu tác động của các biện pháp trừng phạt thương mại. Mô hình này tập trung vào các lệnh cấm vận đối với một số loại hàng hóa hoặc đối với các bên liên quan nhất định. Mô hình sẽ xem xét một nền kinh tế toàn cầu, trong đó có các quốc gia lớn, không đối xứng về quy mô và sức mạnh kinh tế. Sản xuất trong mô hình được chia thành hai lĩnh vực: lĩnh vực thượng nguồn và lĩnh vực hạ nguồn. Lĩnh vực thượng nguồn sản xuất một loại hàng hóa đồng nhất (như khí đốt) trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, trong khi lĩnh vực hạ nguồn sản xuất hàng tiêu dùng khác biệt trong môi trường cạnh tranh độc quyền giữa các doanh nghiệp không đồng nhất. Chúng tôi giả định sự không đối xứng quốc gia bằng cách cho phép một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất năng lượng, trong khi quốc gia (các quốc gia) khác có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng tiêu dùng.
Chúng tôi xem xét hai loại trừng phạt: trừng phạt thương mại và trừng phạt tài chính. Cả hai đều ngụ ý việc loại trừ một số hàng hóa hoặc tác nhân nhất định khỏi thị trường quốc tế. Các biện pháp trừng phạt tài chính cấm một nhóm cá nhân bị trừng phạt tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế. Mặt khác, các biện pháp trừng phạt thương mại cấm vận thương mại đối với một số hàng hóa riêng lẻ, bao gồm cả khí đốt.
Các biện pháp trừng phạt hoạt động như thế nào? Ảnh hưởng của chúng đối với các quốc gia bị trừng phạt và quốc gia áp đặt trừng phạt là gì?
Các phương tiện truyền thông thường dựa vào biến động tỷ giá hối đoái để đánh giá phương thức các biện pháp trừng phạt đang hoạt động.
Kết quả từ khuôn khổ cho thấy những lo ngại ban đầu về cách thức hoạt động của các biện pháp trừng phạt có thể gây hiểu nhầm. Các bài tập mô phỏng liên quan đến giao dịch hàng hóa, giao dịch khí đốt và các biện pháp trừng phạt tài chính chỉ ra rằng tất cả các loại trừng phạt có thể dẫn đến giảm tiêu thụ đáng kể và tăng mạnh nguồn cung lao động ở quốc gia bị trừng phạt. Những thay đổi này trong tiêu thụ và cung lao động khiến phúc lợi của Nước ngoài suy giảm đáng kể. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái thực tế phản ứng khác nhau đối với các loại trừng phạt khác nhau. Tác động kết hợp của các biện pháp trừng phạt nhập khẩu và xuất khẩu (loại bỏ các sản phẩm của 1% doanh nghiệp có năng suất cao nhất khỏi thương mại quốc tế), tỷ giá hối đoái của các quốc gia bị trừng phạt giảm giá. Trong khi các biện pháp trừng phạt tài chính và trừng phạt khí đốt làm tỷ giá hối đoái tăng giá. Kết quả củng cổ phát hiện trong rằng tỷ giá hối đoái không phải là thước đo tốt để đánh giá hiệu quả các biện pháp trừng phạt.
Điều gì thúc đẩy biến động tỷ giá hối đoái để đối phó với các biện pháp trừng phạt? Trái ngược với các nghiên cứu khác, mô hình của chúng tôi liên kết các biến động của tỷ giá hối đoái với những thay đổi về chi phí lao động tương đối của lĩnh vực hạ nguồn, năng suất xuất khẩu trung bình và cơ cấu tiêu dùng trên các quốc gia. Các biện pháp trừng phạt chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất xuất khẩu trung bình và cơ cấu tiêu dùng. Ví dụ, sau các biện pháp trừng phạt xuất khẩu cấm các công ty có năng suất cao nhất của Quốc gia xuất khẩu sang Nước ngoài, giá nhập khẩu trung bình ở Nước ngoài tăng lên, vì những nhà xuất khẩu có năng suất cao thường đưa ra giá thấp nhất. Đồng thời, người tiêu dùng Nước ngoài thay thế hàng hóa mà họ không còn được tiếp cận bằng cách nhập khẩu các hàng hóa khác và tiêu thụ hàng hóa trong nước. Việc thay thế bằng cách nhập khẩu các hàng hóa khác khiến các doanh nghiệp có năng suất thấp hơn (và thường tính giá cao hơn) của Quốc gia gia nhập thị trường xuất khẩu. Trong khi đó, tiêu dùng hàng hóa trong nước, vốn không được giao dịch quốc tế thường có xu hướng đắt hơn. Tất cả những yếu tố này làm tăng chỉ số giá tiêu dùng của Nước ngoài, gây áp lực khiến tỷ giá hối đoái thực tế của Quốc gia bị mất giá.
Ai là người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ các biện pháp trừng phạt - quốc gia bị trừng phạt hay quốc gia áp đặt trừng phạt? Một đánh giá định lượng trong mô hình của chúng tôi cho thấy các biện pháp trừng phạt làm giảm phúc lợi cho cả hai nền kinh tế, nhưng đối với quốc gia bị trừng phạt thì nhiều hơn.
Các biện pháp trừng phạt có tác động mạnh mẽ khi chúng nhắm vào các lĩnh vực kém hiệu quả, buộc nền kinh tế bị trừng phạt phải chuyển nguồn lực sang những lĩnh vực này. Trong mô hình của chúng tôi, các biện pháp trừng phạt cấm vận thương mại đối với hàng tiêu dùng cuối cùng gây ra sự xáo trộn lớn nhất giữa các nhà sản xuất khác nhau trong lĩnh vực này và ảnh hưởng nhiều hơn đến phúc lợi của dân ở quốc gia bị trừng phạt. Chúng tôi chỉ ra rằng, để các biện pháp trừng phạt tài chính thực sự làm giảm phúc lợi, cần loại bỏ một tỷ lệ các tác nhân Nước ngoài bị loại khỏi giao dịch trái phiếu quốc tế phải rất cao. Nếu không, các tác nhân không bị trừng phạt sẽ thay thế và thực hiện các giao dịch tài chính quốc tế cho những doanh nghiệp bị trừng phạt, từ đó làm giảm hiệu quả của các biện pháp trừng phạt.
Các biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế và tác động đến nước thứ ba
Người ta thường cho rằng các biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế không đạt được hiệu quả cao vì thương mại có thể được chuyển sang các nước thứ ba, khiến các biện pháp này khó thực thi trong một thế giới kết nối toàn cầu. Ý kiến này lần đầu tiên được đưa ra bởi Friedman (1980) trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Kết quả từ nghiên cứu khác của chúng tôi cho thấy rằng các biện pháp trừng phạt vẫn gây ra tổn thất đáng kể cho phúc lợi ở nền kinh tế bị trừng phạt ngay cả trong một nền kinh tế thế giới ba khu vực kinh tế kết nối với nhau.
Nhìn chung, các biện pháp trừng phạt dẫn đến việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả và những tổn thất phúc lợi liên quan ở nền kinh tế bị trừng phạt, bất kể tỷ giá hối đoái biến động ra sao và ngay cả khi tính đến ảnh hưởng của các nước thứ ba. Nền kinh tế bị trừng phạt phải chuyển hướng nguồn lực sang các lĩnh vực mà họ gặp nhiều bất lợi. Nếu không dễ dàng tìm được kênh giao thương với các nước thứ ba, tác động của các biện pháp trừng phạt sẽ càng nặng nề hơ đối với nền kinh tế bị trừng phạt, ảnh hưởng cả về hiệu quả kinh tế lẫn phúc lợi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng các nước thứ ba không có động lực tham gia vào các biện pháp trừng phạt. Họ thường chọn đứng ngoài, điều này làm cho việc phối hợp quốc tế trong việc áp đặt các biện pháp trừng phạt trở nên khó khăn hơn.
Liệu việc chuyển hướng thương mại này có ngụ ý rằng các biện pháp trừng phạt không hiệu quả? Không hẳn. Kết quả từ nghiên cứu khác của chúng tôi chỉ ra rằng mặc dù sự phối hợp giữa phương Tây và các nước thứ ba sẽ gây ra tác hại đáng kể hơn cho quốc gia bị trừng phạt, nhưng ngay cả khi chỉ có phương Tây đơn phương áp đặt trừng phạt, các biện pháp này vẫn có tác động đáng kể.
Nhìn chung, các biện pháp trừng phạt gây thiệt hại cho nền kinh tế bị nhắm đến, bất kể biến động tỷ giá hối đoái và ngay cả khi tính đến vai trò của các nước thứ ba. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biện pháp trừng phạt không thể tạo ra tác động mạnh mẽ hơn. Nếu quốc gia bị trừng phạt phải chuyển nguồn lực sang các lĩnh vực mà họ đang gặp bất lợi, hoặc nếu có sự hợp tác với các nước thứ ba, tác động của các biện pháp trừng phạt lên kinh tế và phúc lợi sẽ tăng đáng kể. Điều quan trọng là, việc phối hợp với các nước thứ ba sẽ khiến các biện pháp trừng phạt trở nên hiệu quả hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rắng khó có thể đạt sự phối hợp này, vì nếu không có động lực rõ ràng, các nước thứ ba thường chọn dúng ngoài thay vì tham gia vào liên minh trừng phạt.
Nguồn: CEPR
Từ khóa: kinh tế vĩ mô, thương mại, biện pháp trừng phạt
Các tin khác
- Tham vọng của BRICS (Kỳ 2): Thúc đẩy thương mại xuyên biên giới - 21/10/2024
- Bức tranh thương mại toàn cầu sẽ thay đổi căn bản nếu ông Trump tái đắc cử (kỳ 1) - 21/10/2024
- Phó Chủ tịch Hội Luật gia Trần Công Phàn: “Chuyển đổi số trong doanh nghiệp là một chặng đường dài đầy thách thức” - 21/10/2024
- Tham vọng của BRICS (Kỳ 1): Tránh phụ thuộc vào USD - 21/10/2024
- Cần hành lang pháp cho tín dụng xanh, ngân hàng xanh - 21/10/2024






















