
Sự ám ảnh về tăng trưởng đã tạo ra sự bất bình đẳng lớn, làm suy yếu sự ổn định kinh tế toàn cầu và làm giảm niềm tin vào nền dân chủ. Việc đảo ngược những xu hướng này đòi hỏi phải kiềm chế sức mạnh của nguồn tài chính và quản lý dòng chảy thương mại toàn cầu.
“Tăng trưởng” là thuật ngữ được các nhà kinh tế sử dụng nhằm mục đích mở rộng hoạt động kinh tế, bao gồm gia tăng đầu tư, việc làm, hàng hóa và dịch vụ. Ngược lại, từ này được sử dụng theo nghĩa tiêu cực bởi các nhà vận động môi trường, những người tin rằng việc mở rộng vô hạn của hoạt động kinh tế trong một thế giới có nguồn tài nguyên hữu hạn là không bền vững. Thay vào đó, từ trái nghĩa của nó, “degrowth” được sử dụng thay thế, như trong cuốn sách “Tương lai là giảm tăng trưởng: Hướng dẫn về thế giới vượt qua chủ nghĩa tư bản”. Việc sử dụng và phát triển của “tăng trưởng” và mối liên hệ với GDP, thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển của hệ thống quản lý kinh tế toàn cầu ngày nay, dựa trên những kỳ vọng về “tăng trưởng” liên tục được hỗ trợ bởi việc bãi bỏ quy định tài chính và sự di chuyển vốn. Sự “tăng trưởng” như vậy trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản tài chính hóa đã dẫn đến sự mất cân bằng về sinh thái, và mất cân bằng xã hội và kinh tế, đe dọa đến sự thất bại của hệ thống.
Dòng thanh khoản toàn cầu là kết quả của sự phát triển của hệ thống tài chính, phần lớn được chuyển qua các tổ chức tài chính phi ngân hàng, còn được gọi là “ngân hàng ngầm”. Theo Hội đồng Ổn định Tài chính, tổng giá trị tài sản tài chính do các ngân hàng ngầm nắm giữ vào năm 2022 lên tới 217 nghìn tỷ USD - cao hơn gấp đôi thu nhập toàn cầu (GDP). Theo thiết kế, các tổ chức này hoạt động ngoài tầm kiểm soát của nền dân chủ pháp lý, mặc dù chúng được gắn chặt các ngân hàng trung ương trên thế giới. Hoạt động của họ tác động đến việc hoạch định chính sách kinh tế ở cấp nhà nước và gây ra rủi ro hệ thống cho nền kinh tế thế giới.
Để hình dung lại cách quản trị kinh tế toàn cầu, chúng ta cần quay ngược thời gian và đánh giá sự xuất hiện của một hệ thống “phi quản trị”, hay một hệ thống quản trị không hiệu quả, trích lời José Antonio Ocampo. Hệ thống này đã dẫn đến việc tạo ra hệ thống ngân hàng ngầm - và gây ra sự mất cân bằng tài chính và kinh tế toàn cầu bất ổn.
Nguồn gốc của “Tăng trưởng” và Tự do hóa
Câu chuyện bắt đầu với nhà kinh tế học người Anh, John Maynard Keynes. Trở lại những năm 1930, Keynes đã đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong việc hình thành và xây dựng các tài khoản quốc gia của Vương quốc Anh (và cuối cùng là của thế giới) so với những gì thường được công nhận. Ông thực hiện điều này không nhằm mục đích tính toán mà để đánh giá mức thu nhập hiện tại so với mức thu nhập tiềm năng trong những điều kiện chính sách nhất định.
Giá trị của cái được gọi là “tổng sản phẩm quốc nội” vào thời điểm đó, và được Simon Kuznets định nghĩa là “GDP”, không được Keynes quan tâm nhiều. Như Geoff Tily giải thích, Keynes coi sự phát triển của hệ thống tài khoản quốc gia như một phương tiện để đạt được mục đích chứ không phải là mục đích tự thân. “Hệ thống tài khoản quốc gia được phát triển để hỗ trợ chính sách: giải quyết cuộc khủng hoảng thất nghiệp trong thời kỳ Đại suy thoái và hỗ trợ việc triển khai các nguồn lực quốc gia ở mức tối đa có thể để tiến hành Chiến tranh thế giới thứ hai.” Theo Tily điều quan trọng là phải nhận ra, rằng những sáng kiến cả về lý thuyết và thực tiễn này nhằm vào mức độ tăng trưởng kinh tế - vào việc tăng cường sử dụng các nguồn lực và sau đó là sử dụng đầy đủ cũng như toàn bộ mức độ sản xuất quốc gia - chứ không phải dựa vào sự tăng trưởng của hoạt động. Ở giai đoạn này, các nhà hoạch định chính sách không có khái niệm rằng mức độ hoạt động có thể được khuyến khích tăng lên một cách có hệ thống hoặc thống nhất từ năm này sang năm khác; mục đích là đạt được sự thay đổi cấp độ một lần. Không thể nghi ngờ rằng họ đã thành công trong mục tiêu này và duy trì được những thành tựu này như thời kỳ hoàng kim sau chiến tranh.
Cuộc cách mạng “tăng trưởng”
Cách tiếp cận này đối với các tài khoản quốc gia đã thay đổi hoàn toàn vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960. Tại Vương quốc Anh, nhiều chuyên gia kinh kế khác nhau – đặc biệt là Ngài Samuel Brittan, nhà báo nổi tiếng của tờ Financial Times— đề cao một khái niệm mới về “tăng trưởng” liên tục và tự nhận là “những người tăng trưởng”. Đó là một cách tiếp cận đã làm thay đổi đặc điểm của chính sách trong thời kỳ hậu chiến. Bỏ qua mục tiêu ổn định mức độ việc làm và sản lượng ở mức bền vững, các chính phủ sẽ đặt ra một mục tiêu mang tính hệ thống và khó có thể thực hiện được: việc theo đuổi tăng trưởng.
Theo Tily, dường như không ai dừng lại để xem xét liệu “tăng trưởng” - được tính bằng tốc độ thay đổi theo một hàm số liên tục - có phải là một cách có ý nghĩa hoặc hợp lệ để giải thích những thay đổi về quy mô của nền kinh tế theo thời gian hay không.
Song song đó, chính sách kinh tế ngày càng nhấn mạnh đến các cách tiếp cận từ phía cung, và do đó, các cam kết thực tế nhằm tăng cường việc bãi bõ các quy định nhiều hơn nữa đối với hoạt động kinh tế. Điều này được minh chứng bằng việc Hội đồng của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thông qua “Bộ Quy tắc Tự do hóa Lưu thông Vốn” vào ngày 12 tháng 9 năm 1961. Bộ quy tắc này thiết lập một khuôn khổ dần dần dỡ bỏ các rào cản đối với dòng vốn xuyên biên giới, được thiết kế để cho phép đạt được “tham vọng vô lý về sự tăng trưởng nhanh chóng và không ngừng, bất kể mức độ năng lực của thị trường lao động.”
Vào tháng 10 năm 1961, OECD đã tổ chức một hội nghị về “Tăng trưởng kinh tế và đầu tư vào giáo dục” tại Viện Brookings ở Washington, DC. Được khuyến khích bởi các nhà kinh tế học “cổ điển” và không hài lòng với mức độ hoạt động kinh tế cao nhưng bền vững (so với tiêu chuẩn ngày nay), OECD đã đề xuất tăng tốc cho nền kinh tế Anh và các nền kinh tế khác. Vào thời điểm đó, Vương quốc Anh đang trong tình trạng cung cấp đủ việc làm. Theo lời của thủ tướng lúc bấy giờ là Harold Macmillan, người Anh đã “chưa bao giờ tốt như vậy.” Vào ngày 17 tháng 11 năm 1961, OECD đã thống nhất đặt mục tiêu tăng trưởng 50% cho Vương quốc Anh trong giai đoạn 1960 -1970. Mục tiêu của OECD tương đương với 4,1% mỗi năm. Vào thời điểm đó, tỷ lệ thất nghiệp ở Anh là 1,2%.
Kết quả của việc đặt ra mục tiêu quá tham vọng này là hoàn toàn có thể dự đoán được – một kỷ nguyên lạm phát tràn lan vào những năm 1970, sau đó là các giai đoạn dư thừa tài chính và các cuộc khủng hoảng tái diễn. Kể từ đó, trách nhiệm về lạm phát này đã hoàn toàn, và không công bằng, được đổ cho Keynes và phong trào lao động. Trên thực tế, nỗ lực đạt được mục tiêu tăng trưởng cực kỳ viển vông trong điều kiện gần như có việc làm đầy đủ đã dẫn tới việc xóa bỏ di sản của Keynes: “thời kỳ hoàng kim” của chủ nghĩa tư bản từ năm 1945 đến năm 1971. Quan trọng nhất, nó dẫn đến việc xóa bỏ hệ thống quản lý quản trị kinh tế toàn cầu được thành lập tại hội nghị Bretton Woods năm 1944.
Nguồn: Carnegieendowment
Từ khóa: tăng trưởng, quản trị kinh tế toàn cầu, lạm phát
Các tin khác
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập - 24/07/2024
- Phát triển kinh tế tuần hoàn: Từ kinh nghiệm quốc tế đến chính sách của Việt Nam - 24/07/2024
- Đưa ngành hydrogen lên quy mô 45 tỷ USD vào năm 2050 - 24/07/2024
- Triển vọng hạ nhiệt giá gạo thế giới - 24/07/2024
- Chiến lược bán dẫn của Singapore (Kỳ I): "Bước đi" khác người - 24/07/2024






















