Nếu đến năm 2030, Việt Nam có thêm 1 triệu ha rừng cây gỗ lớn so với hiện nay, thì toàn bộ rừng nước ta sẽ hấp thu được trên 300 triệu tấn khí CO2 mỗi năm, tương đương với tổng lượng phát thải khí nhà kính của cả nước. Khi đó, nước ta sẽ sớm đạt được mục tiêu Net Zero…

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa ban hành kế hoạch “Phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2024 - 2030”. Theo đó, đến năm 2030, tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt khoảng 1 triệu ha, trong đó duy trì diện tích rừng trồng gỗ lớn hiện có là 500.000 ha và phát triển mới giai đoạn 2024 - 2030 khoảng 450.000 - 550.000 ha.
TIỀM NĂNG HẤP THỤ CO2 RẤT LỚN
Theo Báo cáo kỹ thuật kiểm kê Khí nhà kính quốc gia của Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2020, tổng lượng phát thải khí nhà kính hàng năm tại Việt Nam vào khoảng 280 triệu tấn CO2. Trong khi đó, ngành lâm nghiệp đang giúp hấp thụ khí nhà kính mỗi năm lên đến khoảng 39,5 triệu tấn CO2.
Nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng cho thấy, lượng CO2 được hấp thụ bởi rừng nghèo khoảng 30 - 140 tấn/ha, rừng trung bình trong khoảng 175 - 320 tấn/ha và rừng giàu trong khoảng 480 - 1.000 tấn/ha. Cũng theo nghiên cứu này, trong khi rừng trồng 5 - 6 tuổi chỉ hấp thụ được khoảng 100 tấn CO2/ha mỗi năm thì rừng từ 12 - 13 năm tuổi có thể hấp thụ 300 tấn CO2/ha.
Như vậy, nếu Việt Nam có thêm 1 triệu ha rừng cây gỗ lớn đang ở độ tuổi 13-15 năm, thì khả năng hấp thu khí nhà kính của diện tích rừng này lên tới 300 triệu tấn CO2/năm, tương đương với tổng lượng phát thải khí nhà kính của cả nước.
Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho biết trong năm 2023, Việt Nam bán được tín chỉ carbon hơn 10 triệu tấn CO2, thu về hơn 50 triệu USD. Lâm nghiệp là lĩnh vực đang phát thải âm và được đánh giá là có nhiều tiềm năng để thực hiện trao đổi, chuyển nhượng hay thương mại hóa tín chỉ carbon rừng. Phát triển thị trường tín chỉ carbon sẽ giúp Việt Nam tiến gần hơn và bắt kịp với xu hướng tăng trưởng xanh của thế giới, đồng thời giúp người dân có thêm nguồn thu.
TRIỂN KHAI TRỒNG RỪNG GỖ LỚN VẪN CHẬM
Trong số diện tích rừng sản xuất, hiện cả nước mới chỉ có gần 500 nghìn ha rừng trồng cây gỗ lớn, còn lại 3,5 triệu ha trồng cây gỗ nhỏ, thu hoạch khi cây chưa đến 10 năm tuổi. Phần lớn gỗ rừng trồng thu hoạch chủ yếu chỉ phục vụ nguyên liệu cho sản xuất gỗ công nghiệp, gỗ ghép thanh và bán dăm gỗ. Từ đó dẫn đến lợi nhuận rừng trồng ở nước ta quá thấp. Trong khi đó, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu khối lượng gỗ khá lớn để phục vụ ngành sản xuất đồ gỗ.
Tính toán của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Giang cho thấy, nếu chủ rừng khai thác gỗ nhỏ ở năm thứ 6 để sản xuất và bán làm dăm gỗ, giá trị đạt khoảng 80 triệu đồng/ha, thu nhập bình quân đạt từ 12 - 15 triệu đồng/ha/năm. Nhưng nếu đợi 10 - 14 năm để khai thác gỗ lớn, sản lượng sẽ đạt từ 200 - 240 m3/ha và hầu hết cây gỗ đạt đường kính trên 18cm. Khi đó, gỗ sẽ được bán theo giá gỗ xẻ với giá từ 1,8 - 2 triệu đồng/m3, tức khoảng 250 - 300 triệu đồng/ha, lợi nhuận bình quân đạt từ 22 - 25 triệu/ha/năm. Trong khi người trồng rừng gỗ nhỏ phải tới 2 lần đầu tư, với chi phí trung bình khoảng 60 triệu đồng/ha, thì rừng gỗ lớn chỉ cần đầu tư 1 lần, với tổng chi phí trung bình khoảng 40 triệu đồng/ha. Như vậy, chu kỳ trồng rừng gỗ lớn tuy gấp đôi, nhưng hiệu quả kinh tế lại cao gấp 2 - 3 lần rừng gỗ nhỏ.
Tuy vậy, phát triển trồng rừng cây gỗ lớn ở nước ta vẫn rất chậm so với mục tiêu đề ra. Nhiều nguyên nhân khiến người dân chưa mặn mà với trồng rừng cây gỗ lớn, đó là chu kỳ trồng rừng gỗ lớn quá dài, nông dân thiếu vốn đầu tư lâu dài, trong khi họ cần có thu nhập nhanh để đảm bảo cuộc sống hàng ngày... Đáng chú ý, nhiều diện tích đất sản xuất lâm nghiệp đã được giao cho người dân, nhưng vẫn chưa cấp sổ đỏ, khiến người dân e ngại không dám đầu tư lâu lài.
HƯỚNG TỚI CHỦ ĐỘNG NGUỒN NGUYÊN LIỆU
Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2024 - 2030 vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, đặt mục tiêu phát triển vùng rừng trồng sản xuất gỗ lớn tập trung nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ thiên tai.
Theo đó, đến năm 2030, tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt khoảng 1 triệu ha, trong đó duy trì diện tích rừng trồng gỗ lớn hiện có là 500.000 ha và phát triển mới giai đoạn 2024 - 2030 khoảng 450.000 - 550.000 ha. Đồng thời, đặt mục tiêu nâng cao năng suất rừng trồng thâm canh cây keo, bạch đàn và các loài cây lâm nghiệp khác trung bình đạt 20m3/ha/năm vào năm 2025 và 22m3/ha/năm vào năm 2030. Giá trị thu nhập từ rừng trồng sản xuất tăng bình quân khoảng 1,5-2 lần/đơn vị diện tích so với năm 2020; nâng cao chuỗi giá trị sản xuất lâm nghiệp.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Quốc Trị cho biết để đạt được mục tiêu theo kế hoạch đề ra, cần xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn gắn với các cơ sở chế biến để thực hiện chuyển hóa rừng trồng và trồng rừng thâm canh gỗ lớn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặc biệt ưu tiên việc tổ chức sản xuất chuỗi liên kết giữa tổ chức, cá nhân trồng rừng với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ gắn với quản lý rừng bền vững. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ngành lâm nghiệp cần tiếp tục tổ chức nghiên cứu, chọn, tạo giống cây trồng lâm nghiệp, năng suất, chất lượng cao, phù hợp với từng điều kiện lập địa, đáp ứng được yêu cầu của thị trường để đưa vào trồng rừng. Đồng thời, giống cây phải có khả năng chống chịu sâu bệnh hại, thích ứng với điều kiện bất lợi của môi trường; ưu tiên phát triển giống bằng phương pháp mô, hom.
Đặc biệt, phát triển các quy trình kỹ thuật canh tác mới, kết hợp phát triển cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao dưới tán rừng để nâng cao thu nhập, cải tạo môi trường đất và giảm nguy cơ sâu bệnh hại đối với cây trồng. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về lâm nghiệp, quản lý rừng bền vững, chuỗi giá trị lâm sản, các sản phẩm gỗ đáp ứng yêu cầu phát triển lâm nghiệp bền vững; thương mại lâm sản đáp ứng các cam kết quốc tế. Tăng cường hoạt động của hệ thống khuyến lâm; đổi mới cơ chế, hình thức và phương pháp khuyến lâm; hướng dẫn cho người dân thực hiện đúng kỹ thuật trồng rừng thâm canh và chuyển hóa rừng trồng cung cấp gỗ lớn...
Trong kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn, đề ra nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lâm nghiệp, nhất là hệ thống đường lâm nghiệp tại các vùng trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn tập trung, nhằm giảm chi phí đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất giải pháp về cơ chế hỗ trợ ban đầu (kinh phí) cho các chủ rừng kinh doanh gỗ lớn để cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo chuẩn quốc tế nhằm tăng giá trị sản phẩm và hội nhập thị trường quốc tế.
Đồng thời, Bộ đề xuất chính sách miễn hoặc giảm tiền thuê đất và thuế sử dụng đất, chính sách hỗ trợ đầu tư và tín dụng, bảo hiểm rừng trồng đối với những diện tích trồng rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn, nhằm khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình thực hiện. Tạo cơ chế, chính sách để thu hút, huy động nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư trồng rừng thâm canh và chuyển hóa rừng trồng sản xuất gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn.
Nguồn: VnEconomy
Từ khóa: Net Zero, hiệu ứng nhà kính, phát triển rừng
Các tin khác
- Tìm cơ hội ở thị trường ngách - 04/03/2024
- Xuất khẩu tín chỉ carbon: Cơ hội và thách thức - 04/03/2024
- Đẩy mạnh xuất khẩu - một trong ba "chân kiềng" quan trọng của nền kinh tế - 04/03/2024
- Việt Nam-New Zealand: Hợp tác kinh tế - thương mại không ngừng phát triển - 04/03/2024
- Thực hư vị thế đồng USD bị giáng một đòn mạnh - 04/03/2024






















