
Được xác định là một trong những động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong cả giai đoạn vừa qua, nhưng năm 2023, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, nhất là nửa đầu năm, với mức giảm 12,1% so với cùng kỳ năm 2022. Xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường chủ lực đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch của hầu hết mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo đều giảm. Khó chồng khó, hàng hóa xuất khẩu của nước ta còn bị tác động bởi những rủi ro từ thị trường và các biện pháp phòng vệ thương mại gia tăng ở nhiều thị trường lớn. Tuy vậy, tín hiệu khởi sắc xuất hiện 6 tháng liên tiếp nửa cuối năm đưa xuất khẩu hàng hóa năm 2023 đạt số 354,67 tỷ USD. Kết quả này dù chưa bằng mức kỷ lục hơn 371 tỷ USD của năm 2022, nhưng là kết quả đáng ghi nhận. Tạp chí Hải quan gửi tới bạn đọc loạt bài nhìn lại một năm nỗ lực vượt khó trong xuất khẩu của nền kinh tế và nhận định về triển vọng năm 2024.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm, doanh nghiệp xuất khẩu bên cạnh việc đối mặt với khó khăn về đầu ra còn canh cánh nỗi lo rủi ro ngày càng gia tăng.
Khi đối tác… “gục ngã”
Công ty CP Cẩm Hà - một doanh nghiệp tại Quảng Nam chuyên sản xuất hàng nội thất xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ, trong năm rồi đã công bố thông tin về việc một đối tác là Noble House Home Furniture LLC đã chính thức đệ đơn xin phá sản theo Chương 11 tới Tòa án Hoa Kỳ ở quận Houston Texas. DN này cho biết doanh thu của khách hàng Noble House Home Furniture LLC bình quân chiếm khoảng 50% tổng doanh thu của Cẩm Hà. Hiện tại, Công ty đang nỗ lực tham gia vào quá trình giải quyết thủ tục phá sản của Tòa án để thu hồi các khoản phải thu đối với khách hàng Noble House Home Furniture LLC.
Noble House Home Furniture LLC không phải là trường hợp duy nhất“gục ngã” trước bối cảnh khó khăn.
Thời gian gần đây, truyền thông quốc tế liên tục đưa tin về những khó khăn của các doanh nghiệp tại Mỹ và châu Âu do tác động lạm phát, lãi suất tăng cao và nền kinh tế bị trì trệ. Những con số thống kê cho thấy số lượng công ty vỡ nợ tại Mỹ, châu Âu đang ở mức cao kỷ lục trong hàng chục năm qua. Trong số này có không ít đại gia bán lẻ.
Điển hình như chuỗi bán lẻ hàng đầu nước Mỹ Bed Bath & Beyond đã nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 tại Tòa án quận New Jersey từ tháng 4. Tại châu Âu, nhà bán lẻ danh tiếng Paperchase cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và buộc phải bán thương hiệu cho chuỗi siêu thị Tesco.
Những khó khăn, dù từ phía bên kia bán cầu, nhưng đang tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Cùng cảnh ngộ với Cẩm Hà, đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu gỗ tại Bình Dương (xin giấu tên) cũng cho biết cách đây gần 2 năm một đối tác tại Anh phá sản khiến công ty mất trắng gần 100 tỷ đồng. Vị này cho biết, trong năm nay, rất nhiều đồng nghiệp của ông rơi vào tình trạng khách hàng nợ tiền, không trả tiền.
Ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA) thừa nhận, tình hình khó khăn của các DN tại Mỹ và châu Âu đang làm đau đầu không ít nhà xuất khẩu của Việt Nam. Theo đó, việc ký kết các đơn hàng cũng trở nên thận trọng hơn.
Ông Nguyễn Liêm, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Lâm Việt chia sẻ, sau nhiều tháng trì trệ, gần đây đã có khá nhiều khách hàng tìm đến đề nghị đặt hàng nhưng công ty không dám nhận do lo ngại rủi ro về thanh toán trước thông tin nhiều nhà mua sỉ ở châu Âu, Mỹ có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Theo ông Liêm, tính đến thời điểm tháng 10/2023 đơn hàng của Lâm Việt mới chỉ đạt khoảng 70% so với cùng kỳ năm trước, nhưng cũng đã tích cực hơn rấtnhiều so với mức trung bình chỉ 55% trong 6 tháng đầu năm. Trong đó, đa phần là các khách hàng cũ đặt hàng thêm, còn với những khách hàng mới, công ty rất thận trọng. Điều này cũng khiến cho sự phục hồi trở nên chậm chạp hơn.
Không dễ tìm kiếm khách hàng mới
Để bán được hàng đã khó, doanh nghiệp còn phải chấp nhận những “luật chơi” mới của các thị trường.
Ông Nguyễn Liêm chia sẻ, mặc dù Mỹ là nơi khai sinh ra hình thức thanh toán L/C (thanh toán theo thư tín dụng), nhưng các DN Mỹ lại không chấp nhận L/C. Các DN Mỹ chấp nhận đàm phán để được trả chậm 30-60 ngày, thậm chí có thể lên đến 120 ngày. “Không đáp ứng được điều khoản này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không bán được hàng cho đối tác đó” – ông Liêm nói.
Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, hiện các nhãn hàng đưa ra yêu cầu rất khắt khe về sự ổn định của chất lượng, giá cả cạnh tranh và thời gian giao hàng, ngoài ra còn có các yêu cầu về xanh hóa, phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội… Trong khi đó, thời gian thanh toán rất chậm, có những đơn hàng thanh toán chậm tới 60, thậm chí 90 ngày. Điều này tạo áp lực rất lớn do doanh nghiệp phải vay ngân hàng để mua nguyên liệu.
Trước tình hình khó khăn tại Mỹ và châu Âu, việc tìm kiếm các thị trường mới để bù đắp lại sự sụt giảm là điều đã được các doanh nghiệp tính tới và tích cực triển khai. Nhưng thực tế cũng không hề dễ dàng. Theo ông Liêm, thị trường New Zealand có quy mô rất nhỏ, chỉ 4,5 triệu dân. Với Ấn Độ dù đông dân nhưng lại có sự khác biệt về sản phẩm, không phù hợp có sản xuất của Việt Nam. Với thị trường Trung Đông, mỗi năm đơn hàng của Lâm Việt vào thị trường này chỉ vỏn vẹn 2 container. “Đủ cho công nhân của Lâm Việt sản xuất trong khoảng 2 giờ đồng hồ” – ông Liêm chia sẻ.
Hiện các đối tác chỉ đặt hàng ngắn hạn theo từng tháng. Mặt hàng nào tồn kho giảm mới đặt để bù vào. Nên DN luôn phải ở trạng thái sẵn sàng, có đơn hàng là đưa vào sản xuất ngay.
Ông Vũ Đức Giang cũng cho biết, hiện doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang phải “tự bơi” trong một số thị trường để giữ được lực lượng lao động ổn định cho sự phục hồi từ năm 2024-2025. Theo đó, doanh nghiệp phải tạm thời chấp nhận các đơn hàng nhỏ lẻ, không phải thế mạnh, không có lãi để có việc làm cho người lao động và nhằm xây dựng quan hệ đối tác tin cậy, lâu dài. Bên cạnh đó, nỗ lực khai thác thị trường mới, quan tâm nhiều hơn đến thị trường nội địa. Đồng thời tìm cách giảm tối đa các chi phí chưa thực sự cần thiết.
Trong khi đó, ngành gỗ lại có đặc thù riêng khiến việc tiếp cận khách hàng mới chưa thể mang lại hiệu quả tức thời. Theo chia sẻ của ông Liêm, tính từ thời điểm gặp mặt đến khi có hàng xuất đi, doanh nghiệp phải mất ít nhất một năm rưỡi. Từ ý tưởng cho ra được thiết kế phải mất ít nhất 6 tháng, sau đó đưa vào sản xuất, thử nghiệm tại các phòng lab Việt Nam và phòng lab tại Mỹ, châu Âu. Sau đó đối tác bán thăm dò thị trường rồi mới đặt hàng.
Nguồn: Hải quan Online
Từ khóa: ngành gỗ, tiếp cận khách hàng, động lực tăng trưởng
Các tin khác
- Đạt mục tiêu kép: Hiệu quả của cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt - 23/01/2024
- 5 dự báo sốc về giá hàng hoá năm 2024 - 23/01/2024
- Phát triển nền kinh tế số cần chú trọng tiếp thị kỹ thuật số và thương mại điện tử - 23/01/2024
- Trung Quốc: Dân số và tăng trưởng kinh tế cùng giảm - 23/01/2024
- Cung tiền ở Việt Nam và Mỹ - 23/01/2024






















