Liên minh châu Âu (EU) luôn nằm trong top đầu về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng để duy trì và phát triển xuất khẩu bền vững, việc theo dõi và thích ứng với các chính sách trong khuôn khổ Thỏa thuận Xanh EU (The European Green Deal - EGD) là đòi hỏi cấp bách với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu của nước ta.
Nhận diện nhiều khó khăn, thách thức
Thỏa thuận Xanh EU (EGD) là chương trình tổng thể và dài hạn nhằm ứng phó với các vấn đề khẩn cấp về khí hậu toàn cầu đến năm 2050. Được thông qua ngày 15/1/2020, EGD định hình chiến lược của EU để đạt mục tiêu phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 (trung hòa về phát thải) và trở thành khu vực kinh tế sử dụng ít nhất các nguồn lực tự nhiên vào năm 2050.
Theo nghiên cứu của Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong tổng thể, các chính sách xanh của EU được thiết kế bao trùm nhiều lĩnh vực. Trong chưa đầy 4 năm triển khai EGD, EU đã có nhiều chính sách xanh đang hoặc dự kiến có ảnh hưởng trực tiếp tới hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào khu vực này.
Chẳng hạn, trong lĩnh vực nông nghiệp, chiến lược “Từ trang trại đến bàn ăn” (F2F) nêu các mục tiêu chuyển đổi xanh trong nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản thực phẩm. Đối với lĩnh vực sản xuất chế biến, kế hoạch hành động kinh tế tuần hoàn mới (CEAP) liệt kê 35 chính sách nhằm xây dựng nền kinh tế xanh, sạch, tuần hoàn trong 7 chuỗi sản phẩm mục tiêu (điện tử - công nghệ thông tin, pin và phương tiện vận tải, bao bì đóng gói, nhựa, dệt may, xây dựng, thực phẩm và các sản phẩm dinh dưỡng). Ngoài ra, còn có Chiến lược đa dạng sinh học, Cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới (CBAM), Chiến lược hóa chất vì sự bền vững, các chính sách về rác thải tiêu dùng…
Thực tế từ trước đến nay, việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật (TBT), vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) thông thường của EU vốn đã không phải dễ dàng, trong khi các tiêu chuẩn tại EGD còn khắt khe hơn, nên các chính sách xanh của EU sẽ làm gia tăng các tiêu chuẩn “xanh, bền vững” đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Cùng với đó là gia tăng trách nhiệm tài chính của nhà sản xuất cho các mục tiêu “xanh, bền vững”. Đồng thời đòi hỏi tăng thêm về thủ tục khai báo thông tin, về trách nhiệm giải trình khi nhập khẩu, hoặc yêu cầu cung cấp thông tin về các khía cạnh “xanh, bền vững” của sản phẩm cho người tiêu dùng.
Với các chính sách xanh được nhận diện tới thời điểm hiện tại, các nhóm sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ chịu tác động mạnh nhất từ quá trình chuyển đổi xanh ở thị trường EU trong thời gian tới bao gồm: sản phẩm điện, điện tử, công nghệ thông tin, máy móc thiết bị, linh kiện liên quan; nông sản (đặc biệt là cà phê, điều, hạt tiêu, cacao, thịt,…), thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ; thực phẩm các loại (đặc biệt là thực phẩm hữu cơ); dệt may, giày dép; các loại hóa chất, phân bón, pin, ắc quy; sắt thép, nhôm, xi măng; bao bì của các loại sản phẩm (nhất là bao bì thực phẩm, hóa chất).
Ông Nguyễn Văn Tuyên, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại và Dịch vụ Tiến Đạt cho hay, thay vì là tiêu chuẩn tự nguyện như trước đây thì EU đã luật hóa để bắt buộc doanh nghiệp tuân thủ. Ông Tuyên nhận định, những doanh nghiệp mới xuất khẩu sẽ gặp thách thức về chi phí khi phải đầu tư nhiều cho công nghệ, nguyên liệu, sản xuất để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.
Dẫn ví dụ từ chính doanh nghiệp của mình, theo ông Nguyễn Văn Tuyên, là doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và lâm sản, để đáp ứng yêu cầu về cấm chặt phá rừng của EU, doanh nghiệp đã phải làm việc với các đối tác nhập khẩu và phải trả chi phí cao hơn để nhập khẩu những nguyên liệu gỗ có chứng chỉ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Tương tự, ông Đỗ Tiến Trình, Tổng giám đốc Công ty Xi măng Vicem Bút Sơn chia sẻ, doanh nghiệp phải tăng thêm chi phí tín chỉ carbon từ 10-50 Euro/tấn sản phẩm, phải khai báo trung thực về phát thải CO2, nghiên cứu áp dụng nhiều giải pháp để giảm thải ra môi trường như đốt lò bằng rác để giảm đốt than, dùng bùn thải thay thế bớt cho đất sét... Cùng với đó là những thách thức liên quan đến công nghệ và cơ chế chính sách để đáp ứng các quy chuẩn.
Còn với các doanh nghiệp dệt may và nông sản, các chính sách xanh của EU được đánh giá là phức tạp và thách thức hơn đáng kể, ví dụ như đối với tiêu chuẩn, các biện pháp, quy định đều tác động đến nhiều khâu trong chuỗi sản xuất từ thiết kế mẫu mã đến nguyên phụ liệu, từ sản xuất, nuôi trồng đến vận chuyển, từ sử dụng đến sửa chữa, từ thải bỏ đến tái chế… mà không chỉ áp dụng với thành phẩm cuối cùng.
Theo các chuyên gia, danh sách chính sách xanh liên quan tới hàng nhập khẩu từ bên ngoài vào EU sẽ còn tiếp tục được bổ sung cùng với tiến trình triển khai các mục tiêu trong EGD đến năm 2050, đặc biệt là trong giai đoạn từ nay tới 2030.
Hóa giải nguy cơ, đón bắt cơ hội dài hạn

Hiện nay, kinh tế khó khăn đang làm giảm sản lượng xuất khẩu sang EU. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, 9 tháng năm 2023, xuất khẩu sang EU ước đạt hơn 32,5 tỷ USD, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước, xuất siêu ước đạt 21,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 12,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, đây vẫn là thị trường rất tiềm năng với xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt với những cơ hội từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) mang lại.
Hiện hiểu biết của doanh nghiệp về EGD còn hạn chế nên Phó Chủ tịch VCCI Nguyễn Quang Vinh nhận định đây là đòi hỏi cấp bách đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu Việt Nam để duy trì và phát triển xuất khẩu bền vững ở thị trường EU nói riêng và nhiều thị trường khác nói chung bởi các thị trường này cũng đang có những hành động chuyển đổi xanh theo hướng tương tự.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam kiến nghị, dù quá trình chuyển đổi xanh của EU tạo ra lộ trình từng bước để có thể dần thích ứng, nhưng quỹ thời gian không còn nhiều khi có những quy định sẽ áp dụng ngay từ năm 2024 hoặc năm 2025, nên các cơ quan quản lý phải xây dựng cơ sở dữ liệu chung cho các doanh nghiệp chủ động nắm bắt và triển khai kịp thời.
Nhưng GS.TS. Andreas Stoffers, Giám đốc quốc gia Viện FNF Việt Nam cho rằng, để có thể vượt qua khủng hoảng có thể xảy ra, đạt mục tiêu ngắn và dài hạn, nền kinh tế Việt Nam cần nâng cao sức chống chịu và phát triển bền vững, trong đó, tiến tới sản xuất xanh, xuất khẩu xanh là một yếu tố quan trọng.
Hơn nữa, nhìn nhận một cách khách quan thì việc đáp ứng những tiêu chuẩn xanh, chính sách xanh của EU cũng là cơ hội giúp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp trong dài hạn. Không những thế, việc từng doanh nghiệp tham gia chuyển đổi xanh sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy tiến trình chuyển đổi xanh trong nội địa nền kinh tế; mang đến sự bảo đảm nhất định cho khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp tới các thị trường phát triển khác vốn cũng đang thúc đẩy các hành động tương tự.
Nguồn: Hải quan
Từ khóa: thỏa thuận xanh EU
Các tin khác
- Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại, nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam - 21/11/2023
- Thúc đẩy tăng trưởng bền vững từ công nghiệp - 21/11/2023
- Áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu sẽ mang lại nhiều cơ hội mới cho Việt Nam - 21/11/2023
- Chiến lược an ninh kinh tế của EU nói lên điều gì? - 21/11/2023
- Tái cân bằng chuỗi cung ứng toàn cầu - 21/11/2023






















