JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThay đổi cục diện thương mại toàn cầu

Thay đổi cục diện thương mại toàn cầu

port container van

Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng thống Philippines tới Mỹ mang nhiều ý nghĩa hơn so với việc thu hút nhà đầu tư Mỹ đến Philippines hoặc để có thêm cơ hội tiếp cận thương mại cho hàng hóa xuất khẩu. Sự kiện tượng trưng cho sự thay đổi trong mô hình quan hệ ngoại giao của Mỹ hiện nay mà Philippines cũng đang xem xét.

Hoa Kỳ rõ ràng đã mở rộng các mậu dịch của mình với các đối tác thương mại từ một giao dịch đơn giản dựa trên trao đổi các nhượng bộ thương mại đến một giao dịch mở rộng góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ quân sự với Hoa Kỳ, hoặc bất kỳ khía cạnh nào trong quan hệ đối tác mà Philippines đang ra sức củng cố.

Gần đây, chính quyền ông Biden dường như đã suy nghĩ lại về sự đóng góp của thương mại đến nền kinh tế và tăng trưởng toàn cầu của mình. Hoa Kỳ đã dẫn đầu thế giới trong việc củng cố hệ thống thương mại đa phương kể từ những năm 1960. Sự thúc đẩy chính đối với hệ thống thương mại toàn cầu dựa theo quy tắc được thể hiện trong việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 1995. Với WTO, tất cả các quy tắc mới trong thương mại hoặc các quy tắc bổ sung của những quy tắc hiện có đều được đưa ra, tất cả đều nhằm mục đích thực hiện hiệu quả nhượng bộ thương mại đã được thỏa thuận với các đối tác thương mại. Những quy tắc đó nằm trong Đạo luật cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay.

Theo WTO, Philippines phải tự do hóa thị trường nông nghiệp trong số những cuộc cải cách khác và thực hiện các tiêu chuẩn nông nghiệp và thực phẩm để đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ nền nông nghiệp của thế giới khỏi sâu bệnh mà hoạt động thương mại có thể vô tình làm lây lan.

Những năm 1990 và 2000, mô hình thương mại tự do dựa trên lợi thế so sánh, về cơ bản đã nhường chỗ cho việc làm sâu sắc hơn nữa quan hệ thương mại giữa một nhóm nhỏ các thành viên WTO. Các quốc gia thành viên ASEAN đã đồng ý hình thành một khu vực thương mại tự do giữa các nền kinh tế của mình và xu hướng đó đã được nhân rộng ở những nơi khác trên thế giới với nhiều hiệp định thương mại tự do ưu đãi.

Quan hệ thương mại ưu đãi tiếp tục mở rộng với việc ASEAN đồng ý hình thành các quy tắc thương mại tự do với các đối tác thương mại chính như Trung Quốc, Nhật Bản, Úc và New Zealand, ngày nay gọi là hiệp định thương mại ASEAN+ 1.

Từ những năm 2010, Đông Á, dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, đã hình thành một thỏa thuận thương mại lớn gọi là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hiệp định thực tế bao trùm một nửa các nền kinh tế thế giới và do đó nhiều nước trong khu vực buộc hoặc là trở thành một phần của hiệp định hoặc có nguy cơ bị bỏ lại ở phía sau.

Quốc gia đối địch với Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo kinh tế ở Đông Á là Trung Quốc đã đề xuất một hiệp định lớn tương tự cũng với các quốc gia trên. Nước này đã đi đầu trong việc thành lập Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), một hiệp định thương mại quy mô khổng lồ khác. Gần đây, Phillipines đã phê chuẩn RCEP với những nước ủng hộ hiệp định này nghĩ rằng thỏa thuận thương mại khổng lồ sẽ mang lại sự thịnh vượng và tăng trưởng cho đất nước.

RCEP đã thúc đẩy Trung Quốc trở thành một nhà lãnh đạo kinh tế ở Đông Á, đặc biệt là nhờ chính quyền ông Trump. Việc cựu Tổng thống Trump đã rút khỏi hiệp định TPP cho thế giới thấy chính quyền ông đã suy nghĩ lại quyền lãnh đạo của Hoa Kỳ đối với các mối quan hệ ngoại thương của mình.

Tuy nhiên, lợi ích của Trung Quốc đã bị hai năm đại dịch ngăn lại, về cơ bản đại dịch đã làm chậm hoạt động thương mại toàn cầu và khiến các quốc gia thực hiện các chính sách hướng nội hơn. Nền kinh tế Trung Quốc suy thoái và ảnh hưởng đến các đối tác thương mại của nước này. Khi thế giới dần khôi phục, các vấn đề của chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn tiếp tục cản trở hoạt động thương mại.

Khi ông Biden trở thành tổng thống vào năm 2020, giáo sư Ramon L. Clarete cho rằng có lẽ chính quyền ông ấy sẽ làm hồi sinh hiệp định TPP và sẽ tái khẳng định vai trò lãnh đạo kinh tế của Hoa Kỳ ở Đông Á. Song không phải vậy.

Các sáng kiến đã thay đổi ở Mỹ, từ việc chấp nhận quy tắc thương mại tự do thuần túy đến quy tắc thương mại công bằng.

Vào ngày 27/4, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Jake Sullivan đã nêu rõ đánh giá của Hoa Kỳ về cách mà hệ thống thương mại dựa trên quy tắc của những năm 1990 đã tác động đến nền kinh tế Hoa Kỳ. Ông lấy làm tiếc về thực tế rằng sau nhiều thập kỷ toàn cầu hóa, nền tảng công nghiệp của Hoa Kỳ đã không còn. Ông lưu ý thêm về sự bất bình đẳng ngày càng tăng ở Mỹ và điều đó ảnh hưởng đến nền dân chủ. Uy tín của cựu Tổng thống Trump bắt nguồn từ lời hứa giải quyết tình trạng mất việc làm ở Mỹ. Ngay cả bây giờ, lời kêu gọi liên tục của ông Trump là bằng chứng về cách toàn cầu hóa đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Mỹ ra sao.

Theo ông Sullivan, “phần lớn chính sách kinh tế quốc tế trong vài thập kỷ qua dựa trên tiền đề rằng hội nhập kinh tế sẽ khiến các quốc gia có trách nhiệm và cởi mở hơn, và rằng trật tự toàn cầu sẽ giúp giữ hòa bình và hợp tác hơn- đưa các quốc gia vào trật tự dựa trên quy tắc bằng cách khuyến khích họ tuân thủ quy tắc đó. Song trong một số trường hợp, hội nhập kinh tế  đã làm được và trong nhiều trường hợp thì không.”

Để đối phó với những thách thức này, Mỹ dường như đang áp dụng một cách tiếp cận thực tế để thúc đẩy quan hệ quốc tế. Theo quan điểm của giáo sư Clarete, mô hình này bao gồm hệ thống thương mại dựa trên quy tắc nhưng sẽ bao gồm các khía cạnh mới của những mối quan hệ mà Hoa Kỳ cần tận dụng để giải quyết điểm yếu kinh tế sau nhiều thập kỷ toàn cầu hóa. Hai thách thức khác mà ông Sullivan đã ghi nhận là biến đổi khí hậu, cạnh tranh địa chính trị và an ninh.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng thống Philippines tới Mỹ, mô hình mới của Hoa Kỳ đã được hiện thực hóa. Các hiệp định thương mại đơn giản đã là dĩ vãng, hay có thể nói, thế giới đã có tất cả các quy tắc cần thiết để thúc đẩy hội nhập kinh tế toàn cầu. Nhưng chỉ các quy tắc là không đủ. Các đối tác thương mại còn phải tuân theo chúng.

Thế giới có thể cần mở rộng khả năng của các quốc gia thương mại, giải quyết các thách thức về biến đổi khí hậu, đảm bảo rằng lợi ích của thương mại toàn cầu dành cho hầu hết dân số và giúp duy trì hòa bình thế giới. Xét cho cùng, các hiệp định thương mại mang lại lợi ích gì nếu Philippines có những khác biệt địa chính trị so với các đối tác thương mại của mình. Philippines và Trung Quốc đang tranh chấp một phần lãnh thổ trên Biển Tây Philippine. Lợi ích ròng nào giúp Philippines tăng cường giao thương với Trung Quốc thông qua RCEP nếu nước này để mất đi phần lãnh thổ đó?

Bài học cho Philippines

Giống như chính quyền ông Biden, Philippines cũng phải nghĩ lại về cách thực hiện các mối quan hệ thương mại toàn cầu. Thương mại không nên là một biện pháp xoa dịu các vấn đề phát sinh từ sự yếu kém cơ cấu nền kinh tế.

Hãy xem xét lĩnh vực nông nghiệp của Philippines. Đóng góp của ngành vào tăng trưởng kinh tế đã tụt hậu so với phần còn lại của thế giới, từ đó sinh ra tình trạng nghèo đói và thiếu lương thực ở nông thôn. Về mặt cấu trúc, đó là vì Philippines đã chia nhỏ đất nông nghiệp và khiến những chủ đất không có khả năng tiếp cận vốn và khả năng khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô. Làm sao Philippines có thể mở rộng và đa dạng hóa xuất khẩu nông sản nếu nước này không giải quyết vấn đề trên? Làm thế nào Philippines có thể hưởng lợi tốt hơn từ RCEP hay ATIGA trong thương mại thực phẩm và nông sản với năng suất thấp của ngành nông nghiệp Philippines?

Hãy xem xét một vấn đề khác: Dịch tả lơn châu Phi (ASF). Giáo sư Clarete đã theo dõi việc thực hiện các chương trình của chính phủ để giải quyết vấn đề ASF. Những gì Philippines có là thông tư dựa trên các quan sát “lâm sàng” về lợn mắc bệnh. Chính quyền đã không chủ động và không sử dụng các công nghệ cải tiến như tiến hành kiểm tra tại chỗ thường xuyên hơn thay vì chỉ áp dụng các cuộc kiểm tra tại chỗ có giá cả hợp lý. Sau ba năm ASF xảy ra, các tỉnh trước đây không có ASF ở Visayas, Iloilo và Cebu hiện bắt đầu lây lan dịch.

Và tại sao Philippines không chủ động như vậy? Đó là vì thịt heo nhập khẩu. Đây là một cách sử dụng thương mại như một biện pháp xoa dịu.

Một số người Philippines muốn đóng cửa đất nước ngừng giao thương. Song những gì Philippines phải làm là cần đạt được sự cân bằng giữa việc tiếp cận thương mại thịt lợn và đồng thời giải quyết vấn đề cơ cấu cơ bản đang tiếp tục làm lan rộng ASF ở đây.

Nói chung, Philippines phải thúc đẩy quản lý hợp nhất các vùng đất nông nghiệp của mình, hoặc tốt hơn hết là nâng mức trần sở hữu trang trại lên, chẳng hạn như từ 25ha chứ không phải 5ha để nhiều người Philippines mạnh dạn hơn giúp ngành nông nghiệp đạt năng suất cao hơn. Nhưng đồng thời, Philippines phải sẵn sàng sử dụng hàng nhập khẩu để giải quyết tình trạng thiếu lương thực và cách dễ dàng để đảm bảo điều này là tự do hóa thương mại nông nghiệp.

Bên cạnh đó, cần xem xét một vấn đề khác. Đạo luật An toàn Thực phẩm năm 2013 đã chuyển quy định về thuốc thú ý và các thiết bị liên quan từ Cục Công nghiệp Động vật sang Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Tồi tệ hơn, các cơ quan quản lý của FDA ít đánh giá cao tính cấp bách của vấn đề hơn so với các chủ trang trại, những người phải quan tâm đến dịch bệnh gia súc của doanh nghiệp họ. Động vật sẽ cần tiêm thuốc và nếu nguồn cung cấp không thể sẵn sàng vì FDA chưa phê duyệt giấy phép nhập khẩu những loại thuốc này, các nhà sản xuất không thể giải quyết vấn đề một cách hiệu quả và năng suất sẽ giảm. Tại sao chính phủ không thể giải quyết vấn đề này một cách nhanh chóng?

Các nhà kinh tế đã giải thích rằng những người bị thay thế bởi thương mại toàn cầu sẽ tìm nguồn thu nhập khác trong nền kinh tế. Nếu họ từng là nhà sản xuất gạo và việc đánh thuế gạo đã khiến họ bị mất thị phần, họ có thể xem xét sản xuất những mặt hàng nông sản khác. Nhưng việc chuyển đổi sẽ tốn chi phí, nông dân trồng lúa không đủ khả năng chi trả. Nếu không giải quyết được chi phí này, những nông dân đó sẽ bị thay thế và giống như ngành công nghiệp Mỹ, nền tảng của ngành nông nghiệp Philippines sẽ không còn. Thương mại toàn cầu, được sử dụng như một biện pháp xoa dịu tình trạng thiếu lương thực của Philippines, làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói ở nông thôn và bất bình đẳng thu nhập. Nông dân, nhỏ bé và không thể giải quyết vấn đề về mặt cơ cấu này. Nếu đất nông nghiệp Philippines hợp nhất trong quản lý, nhà quản lý sẽ có tiếng nói hơn so với các hộ nông dân riêng lẻ về chuyển đổi sang mục đích sử dụng đất khác để đáp ứng tự do hóa thương mại.

Chính phủ nên hỗ trợ- nhưng đây sẽ không phải là động lực thay đổi chính. Theo quan điểm của giáo sư Clarete, động cơ khuyến khích của chính phủ trong giải quyết các vấn đề cấu trúc không bằng các chủ sở hữu.

Chủ nghĩa thực dụng kinh tế đòi hỏi Philippines phải biết các vấn đề cơ cấu và giải quyết những vấn đề này, ngay cả khi kinh tế mở cửa cho thương mại quốc tế. Những người Philippines tin rằng, nước này phải giải quyết vấn đề cơ cấu đầu tiên trước khi mở cửa đất nước để giao thương, về cơ bản đây là một quan niệm sai lầm. Có thể nhận thấy trong lĩnh vực lúa gạo. Lẽ ra Philippines phải đánh thuế nhập khẩu gạo từ năm 1995, nhưng một phần tư thế kỷ trôi qua, bằng cách nào đó, Philippines đã trì hoãn việc này bởi vì nông dân chưa sẵn sàng cạnh tranh, hoặc Philippines phải giải quyết các vấn đề mang tính cơ cấu trong ngành lúa gạo. Hậu quả là gây mất an ninh lương thực. Trong khi, nông dân Philippines vẫn tiếp tục không thể tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô.

Philippines phải thực hiện cả hai mục tiêu cùng lúc: giải quyết vấn đề cơ cấu và mở cửa nền kinh tế giao thương. Khu vực tư nhân có lợi thế so sánh tốt hơn so với khu vực công trong việc giải quyết những hạn chế về mặt cơ cấu của ngành nông nghiệp.

Nguồn: Business World

Từ khóa: Philippines, ngành nông nghiệp, thương mại, toàn cầu hóa

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804532
Go to top