JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếChính sách công nghiệp của Hoa Kỳ và EU khiến châu Á chịu rủi ro

Chính sách công nghiệp của Hoa Kỳ và EU khiến châu Á chịu rủi ro

us eu

Động lực để phục hồi sản xuất trong nước sẽ có tác động đến nền kinh tế và chính trị

Willon Bratton là tác giả cuốn sách “Sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự suy tàn của Châu Á”, ông từng là nguyên trưởng bộ phận nghiên cứu khu vực châu Á-Thái Bình Dương của ngân hàng HSBC.

Từ lâu đã có một xu hướng đánh giá thấp năng lực sản xuất của Trung Quốc.

Ngay khi thị phần của nước này trong xuất khẩu toàn cầu tiếp tục gia tăng, điệp khúc thường được lặp đi lặp lại chi phí lao động ngày càng tăng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của nước này, trong khi những trở ngại sâu sắc về cơ cấu sẽ ngăn cản đất nước tiến vào các ngành công nghiệp tiên tiến hơn.

Những người ủng hộ quan điểm này đã thường xuyên tranh luận rằng sự thống trị về sản xuất hiện tại của quốc gia cuối cùng sẽ bị đảo ngược – chỉ đơn giản là vấn đề thời gian.

Thật kỳ lạ là những tranh luận vẫn còn lan rộng. Bất chấp những người tiên đoán các thảm họa, khả năng cạnh tranh của Trung Quốc đã loại bỏ chi phí đầu vào cao hơn, đồng thời phát triển chuyên môn hàng đầu trong nhiều lĩnh vực tiên tiến.

Nhưng bằng chứng thực sự làm sao cạnh tranh Trung Quốc, và tính lâu dài của khả năng cạnh tranh này, có thể thấy được trong việc áp dụng các chính sách công nghiệp theo chủ nghĩa can thiệp hơn trên khắp Hoa Kỳ và EU.

Đáng chú ý nhất, Hoa Kỳ đang tích cực phát triển công nghiệp một cách mạnh mẽ. Luận điệu phát ra từ chính quyền của Tổng thống Joe Biden về sự cần thiết để duy trì vai trò lãnh đạo công nghệ của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong các lĩnh vực tiên tiến, và ưu tiên việc làm theo nhiều cách, mang tính chất Trump hơn.

Nhưng không giống như Học thuyết “Nước Mỹ trước hết” (America First) của Trump, nỗ lực của Biden nhằm thúc đẩy tái tạo ngành sản xuất của Hoa Kỳ sẽ thành công dài hạn vì sự cam kết rộng lớn đằng sau nó. Sự thay đổi ý thức hệ này cũng sẽ không sớm bị đảo ngược, với sự hỗ trợ của hai đảng đứng đằng sau nó.

Sự nhiệt tình sản xuất mới của Hoa Kỳ đã khiến khắp châu Âu lo lắng, đặc biệt là các mối lo ngại về sự thay đổi công nghệ về sản xuất trên khắp Đại Tây Dương đã được thực hiện hóa, với một số công ty châu Âu ưu tiên đầu tư vào Hoa Kỳ để tiếp cận các khoản trợ cấp hào phóng hiện tại được cung cấp.

Đáp lại, EU đang tìm cách theo kịp Hoa Kỳ, ăn miếng trả miếng. Đạo luật Công nghiệp Net-Zero của khối nhằm đảm bảo cung cấp trong khu vực ít nhất 40% nhu cầu đối với các chiến lược công nghệ Net-zero vào năm 2030. Khối này cũng đang tìm cách bảo vệ các ngành công nghiệp của mình thông qua Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, cơ chế này sẽ áp đặt các chi phi của giá carbon cao của châu Âu đối với các đối tác thương mại.

Những hành động này có thể chứng minh bằng mong muốn chia sẻ của ba siêu cường kinh tế trên thế giới nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất của họ, đảm bảo quyền sở hữu công nghệ then chốt và thiết lập khả năng phục hồi trong nước.

Nhưng không có điều gì là tốt cho hệ thống thương mại quốc tế. Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU có thể chỉ ra những trách nhiệm nằm ở đâu đối với sự xói mòn của các nguyên tắc cơ bản của thị trường mở và thương mại tự do, nhưng hướng đi rất rõ ràng: Tập trung vào khả năng tự cung tự cấp trong nước và sẵn sàng áp dụng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch nhiều hơn. Tuy nhiên, tất cả đều được thực hiện mà không tính đến hậu quả đến các đối tác thương mại, bao gồm các đối tác ở châu Á.

Vấn để cơ bản là khả năng cạnh tranh sản xuất chủ yếu về quy mô. Điều này củng cố hiệu quả chi phí tương đối cũng như xác định các nguồn lực có sẵn cho đổi mới và khả năng hỗ trợ mức độ chuyên môn hóa cao.

Việc thiếu quy mô trong nước có thể được bù đắp thông qua mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu cổ điển, đã thể hiện thành công bởi các nền kinh tế Con hổ châu Á. Nhưng nếu như bộ ba siêu cường kinh tế - mà cùng với nhau chiếm 60% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu và 54% hàng nhập khẩu được chế tạo – giảm khả năng tiếp cận thị trường, thì phần cò lại của thế giới cũng sẽ nhận hậu quả trừng phạt.

Các nền kinh tế châu Á chịu rủi ro cao nhất từ những động lực hiện tại là những nền kinh tế ở cùng giai đoạn phát triển công nghiệp và đang phát triển các ngành công nghiệp tương đương, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

Không ai trong số họ có thể phù hợp với hỏa lực đang được áp dụng trên bộ ba siêu cường kinh tế. Nhưng ngay cả những quốc gia kém phát triển cũng có thể thấy sự nỗ lực phát triển hoặc mở rộng sản xuất của họ bị hạn chế do tâm lý chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng cản trở việc tiếp cận thị trường phương Tây và Trung Quốc.

Sự tập trung tiếp theo của sản xuất toàn cầu ở Trung Quốc, Châu Âu và Hoa Kỳ sẽ có những hậu quả kinh tế và chính trị quỷ quyệt dài hạn hơn.

Mối liên hệ giữa một mặt là các ngành sản xuất năng động và cạnh tranh, mặt khác là tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng, thường bị bỏ qua. Nhưng sản xuất thường là thành phần kỳ diệu cần thiết cho sự phát triển bền vững và tự củng cố.

Điều này được thể hiện rõ đối với các quốc gia đang gặp khó khăn trong phát triển kinh tế. Nhưng những hậu quả bất lợi của quá trình phi công nghiệp hóa cũng được chứng minh một cách rộng rãi, bao gồm giảm tăng năng suất, thu nhập trì trệ, bất bình đẳng gia tăng và khả năng đổi mới đang suy thoái.

Và sau đó là những rủi ro địa chính trị. Điều đầu tiên là việc mất sản xuất sẽ dẫn đến sự phụ thuộc công nghệ và đòn bẩy chính trị tiếp theo. Các quốc gia sẽ buộc phải lựa chọn công nghệ mà sau này họ khó tự cứu mình và mất quyền tiếp cận phần lớn nền kinh tế toàn cầu.

Nhưng điều rủi ro thứ hai là do sự liên quan về địa chính trị của một quốc gia, phần lớn, là chức năng của việc quốc gia đó tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tầm quan trọng của quốc gia đó chắc chắn sẽ giảm đi khi vai trò của quốc gia đó bị thu hẹp lại.

Ví dụ, nếu Hoa Kỳ sao chép thành công khả năng bán dẫn của Hàn Quốc và Đài Loan, thì có thực tế không khi cho rằng quốc gia này sẽ vẫn là đối tác an ninh kiên định? Không chắc chắn. Sau tất cả, sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Trung Đông đã yếu đi khi tầm quan trọng của khu vực với tư cách là một nhà cung cấp năng lượng đã suy yếu. Một động lực tương tự phải được giả định khi Hoa Kỳ và EU đưa các ngành công nghiệp chiến lược khác gần bờ.

Các nhà sản xuất châu Á đã phải đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện hữu do tính cạnh tranh quá mức của Trung Quốc. Nhưng các hành động cúa EU và Hoa Kỳ hầu như cho thấy rằng họ có thể được tin tưởng là “những người bạn khi cần”. Thay vào đó, hệ thống thương mại quốc tế đang chịu áp lực ngày càng tăng, với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngày càng được biện minh trên cơ sở địa chính trị, trong khi các đối tác thương mại lâu dài, như Nhật Bản và Hàn Quốc, đơn giản là những thiệt hại tài sản thế chấp không thể tránh khỏi trong cuộc chiến đang xảy ra giữa các siêu cường quốc tế.

Thật không may, có một mức độ không thể tránh khỏi đối với quá trình khu vực hóa sản xuất này và những hậu quả trừng phạt của nó đối với các quốc gia khác.

Nhưng một con đường khác sẽ là tăng cường các hiệp định thương mại tự do loại trừ ba siêu cường kinh tế để đảm bảo rằng các mối quan hệ đối tác quốc tế được ưu tiên là đối xứng hơn, cả về kinh tế và địa chính trị. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, như hiện nay bao gồm, sẽ phù hợp với mục đích này.

Mặt khác, rủi ro là các quốc gia láng giềng châu Á của Trung Quốc phải đối mặt với một loạt các lựa chọn bắt buộc sẽ làm đen tối tương lai nền kinh tế và địa chính trị của họ.

Nguồn: Asian Nikkei

Từ khóa: công nghệ, ba siêu cường, rủi ro, chính sách, địa chính trị, châu Á

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804616
Go to top