JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếBài học của cuộc khủng hoảng năng lượng

Bài học của cuộc khủng hoảng năng lượng

Koundouri main scaled

Các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và châu Âu đã không học được chúng

Chính sách năng lượng là chính sách an ninh quốc gia. Vì thế, khi các nhà lãnh đạo chính trị hiểu sai về chính sách năng lượng, họ cũng hiểu sai về chính sách an ninh quốc gia.

Một ví dụ rõ ràng: Đức trong nhiều năm háo hức trong việc tăng sự phụ thuộc của nước này vào khí đốt và dầu mỏ của Nga. Các nhà ngoại giao Đức tin tưởng rằng họ đã thực hiện một chiến lược thông minh: “Chúng tôi đang khiến Putin phụ thuộc vào tiền của chúng tôi!”.

Sau đó, chỉ hơn một năm trước đây, xe tăng Nga tiến công vào Ukraine. Hydrocacbon của Nga ngừng chảy sang châu Âu. Nhưng không phải chỉ có chủ nghĩa đế quốc phải chịu trách nhiệm cho những gì mà Brenda Shaffer gọi là “Cuộc khủng hoảng năng lượng tệ nhất từ Thế chiến II” của thế giới.

Một giảng viên nghiên cứu tại Trường Hải quân Hoa Kỳ Sau đại học và là nhà cố vấn cao cấp về năng lượng tại FDD, bà ấy đã có một bài thuyết trình về chủ đề này vào tháng vừa rồi tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Toàn cầu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore.

Ngoài ra dựa vào Nga để có nguồn tài nguyên chiến lược, bà ấy giải thích, chính sách năng lượng của Đức trong gần một thập kỷ đã thúc đẩy mạnh mẽ năng lượng mặt trời và năng lượng gió trong khi ngừng đầu tư vào hydrocacbon. Nó dẫn đến “sự sụp đổ của các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều năng lượng ở châu Âu”.

Tổng thống Biden đã áp dụng các chính sách tương tự, Đạo luật Giảm Lạm phát của ông không có tác dụng đối với lạm phát. Thay vào đó, nó cung cấp các khoảng trợ cấp khổng lồ cho “năng lượng tái tạo”.

Theo tính toán của Goldman Sachs, chi phí mà người nộp thuế phải trả sẽ là 1,2 nghìn tỷ USD trong vòng 10 năm – kinh phí sẽ không rõ ràng, sẵn sàng cho việc củng cố an ninh quốc gia tại thời điểm các mối đe doa và thách thức đang gia tăng.

Chính sách năng lượng của ông Biden đã bỏ qua một thực tế cơ bản: Đối với những nền kinh tế công nghiệp hóa để vận hành khi mặt trời không chiếu sáng và gió không thổi, thì phải có thứ mà bà Shaffer gọi là “phụ tải cơ bản hay một nguồn năng lượng ổn định”. Hiện tại, chỉ có hydrocacbon hay năng lượng hạt nhân có thể cung cấp điều đó.

Bà ấy lưu ý rằng khí tự nhiên, “nhiên liệu hóa thạch sạch nhất và ảnh hưởng rất ít đến ô nhiễm không khí”, cũng là một nhiên liệu đầu vào quan trọng lấy từ phân bón. Việc hạn chế trong sản xuất khí tự nhiên đã làm tăng giá thực phẩm. Đó không phải là điều tốt và đặc biệt gây thiệt hại cho người nghèo.

Hầu hết các nhà lãnh đạo phương Tây dường như không biết gì, gật đầu đồng ý khi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonia Guterres khẳng định rằng “quả bom hẹn giờ khí hậu đang tích tắc”.

Đó là câu trả lời của ông đối với báo cáo gần đây nhất của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu, trong đó thừa nhận: “Các kịch bản phát thải rất cao ít có khả năng xày ra nhưng không thể loại trừ”.

Roger Pielke Jr. nhà khoa học khí hậu lưu ý rằng điều tương tự có thể nói về xâm lược ngoài trái đất. Việc thực hiện các chính sách đối phó với người sao hỏa bây giờ có nên là ưu tiên hàng đầu của phương Tây hay không?

Nhờ có ông Gueterres và những người báo động khác, 60% người sống ở các quốc gia giàu có nghĩ rằng biến đổi khí hậu “có khả năng chấm dứt sự sống của loài người”, như Bjorn Lomborg, chủ tịch của Trung tâm đồng thuận Copenhagen, gần đây đã viết. “Điều này không chỉ là sai sự thật”, ông ấy nói thêm, “mà còn có hại vì nó khiến cho mọi người chấp nhận các chính sách tồi tệ”.

Ông Lomborg đã ước tính rằng nếu mỗi quốc gia “thực hiện mọi lời hứa” trong hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015, mức giảm nhiệt độ tăng sẽ là 0,17 độ C. Điều này sẽ không có gì khác biệt dù có thế nào đi nữa.

Ông cho biết thêm: “Để thực hiện các lời hứa trong hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, Liên Hợp Quốc cho biết, mức giảm hàng năm trước năm 2030 sẽ phải gấp 11 lần những gì chúng tôi đã cố đạt được khi thế giới ngừng hoạt động trong phong tỏa vì covid. Điều đó hầu như không thực tế.”

Trong khi đó, Đức và các quốc gia châu Âu khác đã từng mua và đốt nhiều than hơn – loại hydrocacbon gây ô nhiễm môi trường nhất – để bù đắp cho lượng dầu và khí đốt  mà họ không nhận được từ Nga.

Trung Quốc đang xây dựng một nhà máy đốt than bẩn mỗi tuần – hơn phần còn loại của thế giới cộng lại. Ô nhiễm và khí thải Carbon dioxide từ những nhà máy đó sẽ vượt xa bất kỳ mức giảm phát thải mà người Mỹ và người châu Âu có thể đạt được.

Trung Quốc đã chiếm hơn một phần tư tổng lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu. Đúng vậy, Bắc Kinh cũng đang tăng cường sử dụng năng lượng mặt trời và gió. Nhưng đó là để tăng thêm hydrocacbon hơn là thay thế chúng – một chính sách hợp lý.

Các nhà cầm quyền của Trung Quốc cũng biết họ sẽ hưởng lợi rất nhiều nếu hệ thống năng lượng toàn cầu được dẫn đầu bởi Hoa Kỳ - nhà sản xuất hydrocacbon lớn nhất thế giới – chuyển giao hệ thống được dẫn đầu bởi Trung Quốc – quốc gia đi đầu về công nghệ tái tạo, khoáng sản đất hiếm, và các thành phần được sử dụng trong xe điện mà chính quyền Biden đang chi tiêu đồng đô la của người đóng thuế để hối lộ ngành công nghiệp ô tô để bán và người tiêu dùng đề mua.

Những phương tiện đó sẽ đòi hỏi một lượng điện khổng lồ không thể được tạo ra bằng chỉ năng lượng tái tạo hay không thể phân phối đầy đủ bằng một mạng lưới cũ kỹ và không đáng tin cậy. Hiện nay, chỉ 3 trong số 100 ô tô ở California là xe điện. Tuy nhiên, gần đây nhà nước đã yêu cầu các chủ sở hữu “tự nguyện tiết kiệm điện” vì nhu cầu sử dụng điện đang vượt quá khả năng cung cấp. Muốn đặt cược việc tiết kiệm điện sẽ không còn tự nguyện trong vài năm tới?

Mục này bắt đầu chỉ ra rằng chính sách năng lượng là chính sách an ninh quốc gia. Nhưng, như bà Shaffer đã lưu ý trong bài thuyết trình của mình, đối với các nhà lãnh đạo châu Âu và Hoa Kỳ, thay vào đó chính sách năng lượng đã trở thành “một tập hợp con của chính sách khí hậu”.

Mục đích là để báo hiệu đạo đức. Đó là lý do tại sao bạn sẽ thấy họ khoe khoang rằng các chính sách của họ “giải quyết” vấn đề biến đổi khí hậu. Bất kỳ ai chú ý đều biết những chính sách này sẽ không ngăn chặn hoặc thậm chí làm chậm quá trình biến đối khí hậu.

Thế giới đã nóng lên 1,1 độ C trong 150 năm qua. Có thể thích ứng với một hoặc hai mức độ nóng lên khác với một chi phí hợp lý. Nếu chúng ta muốn giảm ô nhiễm và lượng khí thải carbon dioxide, có một cách đơn giản: Sử dụng khí tự nhiên và năng lượng hạt nhân nhiều hơn. Tại sao hầu hết các nhà hoạt động khí hậu từ chối cả hai nguồn năng lượng này?

Chính sách hiện tại của Hoa Kỳ và châu Âu – cố gắng loại bỏ hydrocacbon và buộc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo – đang làm suy yếu an ninh quốc gia, gây ra những xáo trộn kinh tế nghiêm trọng và khiến người dân nghèo hơn.

Đó là bài học quan trọng của cuộc khủng hoảng năng lượng. Các nhà lãnh đạo của châu Âu và Hoa Kỳ đã không chịu học bài học này.

• Clifford D. May là người thành lập và chủ tịch của Tổ chức Bảo vệ Dân chủ (FDD) và là người phụ trách chuyên mục cho The Washington Times.

Nguồn: The Washington Times

Từ khóa: Bài học, cuộc khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm, carbon dioxide

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804612
Go to top