JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tế5 câu hỏi cần lời đáp cho khủng hoảng năng lượng năm 2023

5 câu hỏi cần lời đáp cho khủng hoảng năng lượng năm 2023

Thị trường bất ổn và sự bức thiết phải lập lại vị thế địa chính trị sau cuộc xung đột giữa Nga- Ukraine đã đặt sinh kế và hoạt động chuyển giao năng lượng xanh trước nhiều thách thức. Dưới đây là cách các nhà nghiên cứu có thể giúp vượt qua mối đe dọa.

Thị trường năng lượng chịu nhiều biến động trong năm nay. Để đối phó với xung đột Nga- Ukraine, các nước phương Tây đã áp đặt các lệnh trừng phạt tài chính đối với Nga và cấm vận dầu xuất khẩu từ Nga. Để trả đũa, Nga cũng cắt giảm nguồn cung dầu khí sang châu Âu. Phần lớn nhà nhập khẩu như Đức phải giảm thiểu năng lượng sử dụng và tìm nguồn cung ứng khác. Các nước thu nhập thấp và trung bình đã đấu tranh để tiếp cận nguồn năng lượng với giá hợp lý. Các nước như Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka phải đối mặt với tình trạng mất điện, giá nhiên liệu tăng nhanh làm ảnh hưởng đến thị trường lương thực.

Khi năm 2022 sắp khép lại, nhiều hệ thống năng lượng của Ukraine bị tổn hại nghiêm trọng. Giá điện và khí đốt toàn cầu vẫn ở mức cao và các tập đoàn năng lượng cũng như các cường quốc giàu nhiên liệu hóa thạch đã quay trở lại vị trí dẫn đầu. Năm 2023 và những năm sau, khủng hoảng năng lượng sẽ gây ra hậu quả sâu sắc đối với xu hướng thế giới và cách thế giới có thể đi đúng hướng tới một tương lai xanh hơn. Nhưng chính xác hậu quả là gì? Và các nhà hoạch định chính sách nên làm gì? Chúng tôi nêu ra 5 lĩnh vực trong đó các nhà nghiên cứu có thể và phải đưa ra câu trả lời.

Bản đồ năng lượng toàn cầu sẽ thay đổi như thế nào?

Những sự kiện trong năm qua đã thay đổi cơ bản vị thế của Nga trong thị trường năng lượng toàn cầu và định hình lại những thị trường đó. Các liên minh mới đang được xây dựng và những liên minh cũ được củng cố. Năm 2021, châu Âu đã nhập khẩu hơn 1/2 dầu Nga và chiếm khoảng 3/4 lượng khí đốt bán ra của Nga. Giờ đây, Liên minh châu Âu đang tiếp cận các nhà cung ứng khí đốt lớn như Na Uy, Algeria và Hoa Kỳ, cũng như các nhà cung ứng khí đốt tự nhiên hóa lỏng ở châu Phi và Trung Đông (xem Nature 604, 232–233; 2022). Năm 2023, trong một sự dịch chuyển mang tính lịch sử, các nước EU sẽ cùng nhau hợp tác để mua đủ khí đốt lấp đầy 15% các kho lưu trữ. Khả năng EU sẽ điều phối hoạt động này với các đối tác khác trong nhóm các nền kinh tế tiên tiến G7 sẽ rất quan trọng để theo dõi. Thành công sẽ làm tăng khả năng thương lượng của EU và tăng cường tính đoàn kết chính trị giữa các đối tác G7, chẳng hạn EU cùng với Úc đã thiết lập giá trần vào đầu tháng 12 đối với dầu mỏ xuất khẩu của Nga trên toàn cầu.

Trong khi đó, Nga đang chuyển sản lượng xuất khẩu mất thị phần ở châu Âu sang châu Á, chủ yếu nhắm đến Trung Quốc và Ấn Độ (xem ‘Oil and gas reshuffle’). Nga có thể tìm ra một đối tác mới trong những mối quan hệ này, đặc biệt với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nga vẫn có thể duy trì hoặc gia tăng sức ảnh hưởng trong liên minh nhiên liệu hóa thạch OPEC+, đặc biệt nếu Ả Rập Xê- út tiếp tục “né tránh” Hoa Kỳ- một đồng minh quen thuộc của Hoa Kỳ.

 

nl1

 

Châu Âu sẽ chứng kiến mức giảm tiêu thụ khí đốt tự nhiên kéo dài nhờ hiệu quả năng lượng lớn hơn, chuyển sang các giải pháp thay thế xanh và chuyển giao, hoặc gia công các ngành công nghiệp thâm dụng năng lượng, như thép và phân bón sang các quốc gia khác. Các nước Đông Á sẽ muốn giảm sự phụ thuộc vào khí tự nhiên hóa lỏng đắt đỏ và chuyển sang sử dụng than đá rẻ hơn. Hoa Kỳ đang phát triển nguồn năng lượng tái tạo và nhiên liệu hóa thạch trong nước để tự bảo vệ mình khỏi những căng thẳng năng lượng toàn cầu và biến động giá cả.

Trên thế giới, liệu các khoản đầu tư chuyển từ cơ sở hạ tầng khí đốt sang than đá hay năng lượng tái tạo sẽ có những kết quả sâu sắc đối với nguồn ngân sách carbon hay không. Một số tiên đề lâu đời phải được từ bỏ, như vai trò của khí đốt rẻ được xem là “nhiên liệu cầu nối” cho một hệ thống năng lượng xanh.

Các giải pháp năng lượng khác cũng đang được thúc đẩy, đáng chú ý là khí hydro xanh- thu được từ nước sử dụng phương pháp điện phân chạy bằng năng lượng tái tạo. Ví dụ, vào tháng 8, Liên minh hydro Canada- Đức đã thông báo đang thống nhất các chính sách và nguồn đầu tư để phát triển các chuỗi cung ứng hydro giữa hai nước. EU đang chú trọng hơn vào mối quan hệ thương mại năng lượng với các nước châu Phi bao gồm Algeria, Nigeria và Namibia, hướng tới công nghệ hydro xanh và ‘power-to-X’, sử dụng điện sạch để tạo ra khí tự nhiên tổng hợp, nhiên liệu lỏng hay hóa chất chính là chất trung hòa carbon.

Năm 2023, các nhà nghiên cứu cần xem xét liệu những bước này có đủ để bù đắp sản lượng dầu không nhập từ Nga và tránh gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung toàn cầu. Những nhà nghiên cứu phải đánh giá các chiến lược để cân bằng cung và cầu đối với khí đốt tự nhiên hóa lỏng trong một thị trường hẹp và khi sản lượng sản xuất Trung Quốc tăng lên sau thời gian đóng cửa do Covid-19. Các nhà kinh tế năng lượng và nhà khoa học chính trị phải lập mô hình khuynh hướng, đánh đổi và tác động chi phí để thông báo cách thức thiết kế lại quy định và công cụ chính sách.

Tính khả thi về công nghệ và kinh tế về các dự án năng lượng mới phải được điều tra. Một số được đề nghị vội vã, sắp đặt lại hay tiến triển nhanh. Ví dụ, đường ống dẫn BarMar, một dự án hợp tác giữa Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nhằm dẫn khí đốt tự nhiên- và sau đó là khí hydro xanh- thông qua một mạng lưới dưới biển giữa Bacelona và Marseilles trong 4- 5 năm tiếp theo. Tuy nhiên, tính khả thi công nghệ và kinh tế của cơ sở hạ tầng như vậy vẫn còn phải được xem xét.

Khả năng chuyển hướng xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt sang châu Á của Nga cần được hiểu rõ hơn. Nga có thể vận chuyển dầu bằng tàu qua kênh đào Suez và Bắc Băng Dương. Khí đốt yêu cầu ống dẫn. Một đường ống dẫn khí đốt đã được lên kế hoạch với tên gọi Power of Siberia 2 nhằm mục đích mở rộng kết nối giữa Nga và Trung Quốc đi qua Mông Cổ sau năm 2030, mặc dù các lệnh trừng phạt dành cho Nga có thể làm trì hoãn việc xây dựng đường ống này. Các nhà nghiên cứu cần xem xét mức độ tắc nghẽn cơ sở hạ tầng, hành chính và kinh tế có thể làm chậm hàng xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc và cuối cùng cản trở nền kinh tế của Nga. Liệu các lệnh trừng phạt có hiệu quả và liệu Nga sẽ phát triển các giải pháp trong nước để né tránh chúng?

Giá năng lượng cao ngất trời sẽ thúc đẩy nguồn năng lượng tái tạo?

Mức độ các nước có thể tiến triển nhanh để chuyển đổi sang nguồn năng lượng xanh là một câu hỏi quan trọng cho năm 2023. Giá dầu và khí đốt toàn cầu cao (xem ‘Energy cost hikes’; bảng phía trên) khuyến khích các hộ gia đình và doanh nghiệp lắp đặt các tấm pin mặt trời và máy bơm nhiệt để giảm tiền điện, như nhiều người đã làm trong năm nay ở châu Âu. Các nhà hoạch định chính sách EU đã nhanh chóng cấp phép lắp đặt năng lượng tái tạo và đơn giản hóa quy định xung quanh việc cải tổ các tòa nhà để tiết kiệm năng lượng hơn. Năm nay, Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật giảm Lạm phát, bao gồm trợ cấp cho sản xuất công nghệ sạch trong nước, điều này sẽ thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu cần xem xét những thay đổi chính sách này diễn ra như thế nào trong bối cảnh những tác động ngược kinh tế và chính trị đang diễn ra mạnh mẽ.

nl2

nl3

Các nước phương Tây đang đẩy mạnh sản xuất công nghệ xanh trong nước để bớt phụ thuộc vào Trung Quốc, một đối thủ cạnh tranh địa chính trị. Cuộc chiến của Nga đã làm tăng những lo ngại về vị thế dẫn đầu của Trung Quốc trong công nghệ sạch và sự kiểm soát của nước này đối với nguyên liệu thô chính được sử dụng để sản xuất, như nguyên liệu đất hiếm. Năm nay, Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật CHIPS để thúc đẩy ngành công nghiệp chất bán dẫn trong nước, đây là điểm trọng tâm đối với tất cả các sản phẩm điện tử. Nước này cũng cấm hàng nhập khẩu từ khu vực Tân Cương của Trung Quốc- một cường quốc sản xuất các tấm pin mặt trời- để đáp lại các báo cáo về lao động cưỡng bức tại đó.

Nhưng ban hội thẩm không đánh giá cao tính khả thi và giá trị của việc ‘reshoring’ – chuyển hoạt động sản xuất của hàng hóa trở lại nước ban đầu. Trong các lĩnh vực như năng lượng mặt trời, Trung Quốc đã đầu tư hàng tỷ đô la trong nhiều thập kỷ để trở thành trung tâm gia công quan trọng. Thay vì lặp lại điều đó, một chiến lược thông minh hơn cho các nước châu Âu và Hoa Kỳ có thể tập trung vào phát triển thế hệ công nghệ tiếp theo, bao gồm pin natri-ion hay tấm pin năng lượng mặt trời màng mỏng không silicon.

Các quốc gia có trữ lượng kim loại và khoáng sản quan trọng như thuốc nhuộm coban và lithi cũng cần để ý. Các nước này không nhất thiết phải trải qua một ‘cơn sốt vàng’: như dầu mỏ của Trung Đông, giàu có về tài nguyên có thể làm gia tăng xung đột. Xuất khẩu ngoại tệ có thể làm suy yếu nền kinh tế nội địa như những gì đã xảy ra ở Nigeria và Venezuela. Các nhà nghiên cứu cần đánh giá tác động kinh tế và xã hội của ‘khai thác xanh’ tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Cần theo dõi khoảng cách ngày càng lớn giữa các nước dẫn đầu và các nước tụt hậu về phương pháp carbon thấp. Sự mất cân bằng đầu tư rất nghiêm trọng: vào năm 2021, các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi chỉ nhận được 8% tổng đầu tư vào năng lượng sạch —phần còn lại thuộc về các nước công nghiệp hóa và Trung Quốc 1 , 2 . Sẽ có những tác động đối với phát triển kinh tế 3 : nếu các nhà đầu tư tránh xa các quốc gia có hệ thống năng lượng dựa trên than đá, trong đó, nhiều quốc gia có thu nhập thấp và trung bình sẽ khó bắt kịp và công nghiệp hóa thành công. Các nước này sẽ cần nhiều tiền để hiện thực hóa giấc mơ. Cho đến nay, các cam kết quốc gia đối với Quỹ Khí hậu Xanh đã không còn nhiều. Trước bối cảnh đó, nhiều sáng kiến ​​hơn là rất cần thiết như Liên minh Khí hậu Toàn cầu 4, được đề xuất tại hội nghị khí hậu COP27 ở Ai Cập vào tháng trước. Những quốc gia giàu có này cam kết đóng góp vào quỹ tài chính khí hậu bằng cách sử dụng tiền được tạo ra thông qua các chương trình thuế carbon và các phương pháp khác. Sau đó được phân phối giữa các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, tùy thuộc vào các cam kết về khí hậu của họ.

Cuối cùng, bản chất của quá trình chuyển đổi khử cacbon là một lựa chọn chính trị. Liệu thế giới có giải quyết quá trình chuyển đổi như một thách thức chung toàn cầu - đòi hỏi nỗ lực chung của các ngân hàng phát triển, tổ chức tài chính và các chính phủ từ G7 đến G20? Hay như một cuộc chạy đua xanh—có kẻ thắng người thua và hệ lụy, kể cả triển vọng kém hơn cho những quốc gia không thu hút được vốn 'sạch'? Các nhà nghiên cứu cần cung cấp bằng chứng để giúp các nước trên thế giới ra quyết định.

Bối cảnh công nghiệp sẽ thay đổi như thế nào?

Chi phí cao và nguồn cung năng lượng giới hạn sẽ thiết lập các ngành công nghiệp, bao gồm các quy trình và địa điểm. Điều này sẽ mất thời gian, nhưng quá trình khử cacbon đang được tiến hành sau nhiều năm khi các thay đổi về cấu trúc được thực hiện — và các tác động đã được cảm nhận.

Một số lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều năng lượng, bao gồm nhôm, phân bón và các hóa chất khác, đang bắt đầu chuyển sang mua năng lượng những nơi cung cấp rẻ hơn, chẳng hạn như Hoa Kỳ hoặc Trung Đông. Các ngành công nghiệp khác đang đổi mới. Các nhà sản xuất thép châu Âu đang đầu tư vào việc chuyển đổi sang hydro xanh và hợp tác với các công ty năng lượng để xây dựng các cơ sở năng lượng gió thành hydro lớn. Các nhà sản xuất ô tô đang chuyển sang khung gầm làm bằng 'thép xanh' được rèn bằng năng lượng tái tạo và chuyển bánh xe làm bằng 'nhôm xanh' được sản xuất bằng phương pháp carbon thấp.

Về lâu dài, các cơ sở sản xuất thép, nhôm và công nghệ power-to-X sẽ ngày càng phổ biến tại các khu vực giàu ánh sáng mặt trời, gió, thủy điện và nhiên liệu sinh học. Các khu vực như Bắc Phi, Tây Úc, rìa Biển Bắc hoặc một phần của Trung Đông có thể nổi lên như những cường quốc kinh tế. Các nhà sản xuất hình thành ở cuối quy trình của (trong một chuỗi cung ứng) đường ống dẫn khí đốt hoặc gần mỏ than sẽ mất lợi thế cạnh tranh. Phi công nghiệp hóa - một mối đe dọa đáng sợ đối với các quốc gia tiên tiến, do những tác động của nó đối với việc làm và tăng trưởng kinh tế - là một rủi ro thực sự và có thể làm gia tăng căng thẳng xã hội và phản ứng dữ dội về chính trị đối với quá trình khử cacbon.

Các nhà nghiên cứu cần cung cấp thông tin về các mô hình kinh doanh mới để giúp ngành công nghiệp nặng điều chỉnh nhanh chóng trong khi vẫn duy trì tính cạnh tranh. Những mô hình này sẽ cần được làm mới nhanh chóng khi các điều kiện và thực tiễn thay đổi. Ví dụ, các nhà máy lọc hóa dầu sẽ chỉ tồn tại lâu dài nếu họ chuyển sang sử dụng nhiên liệu lỏng có hàm lượng carbon thấp và có thể thương mại hóa chúng. Làm cách nào để giảm chi phí và hình thức hỗ trợ của chính phủ nào có thể giúp đưa các sản phẩm sạch khả thi ra thị trường một cách nhanh chóng?

Người ta biết rất ít về chuỗi cung ứng công nghệ xanh trong tương lai. Cần tính toán chi phí sản xuất và vận chuyển hydro xanh. Amoniac là một cách đầy hứa hẹn để vận chuyển nhiên liệu như vậy trên một quãng đường dài, nhưng triển vọng thương mại của phương pháp này vẫn còn là một câu hỏi.

Cuối cùng, tốc độ và hình thức của quá trình chuyển đổi công nghiệp xanh sẽ phụ thuộc vào cách các quốc gia tổ chức sản xuất, lao động và các can thiệp của nhà nước (chẳng hạn như trợ cấp) trong nền kinh tế của họ. Các quốc gia có thị trường tự do, chẳng hạn như Hoa Kỳ hoặc Vương quốc Anh, có thể đổi mới triệt để để thoát khỏi thời đại nhiên liệu hóa thạch. Nhưng họ sẽ quản lý các ngành kế thừa như than, thép hay hóa chất như thế nào? Các nền kinh tế tập đoàn, chẳng hạn như Đức hoặc Pháp, rất giỏi trong việc thực hiện thay đổi công nghiệp gia tăng thông qua sự hợp tác giữa các cơ quan công quyền và lao động có tổ chức 5. Họ sẽ phát triển mạnh hay nền kinh tế của họ sẽ bị chậm lại bằng cách giữ cho các ngành cũ tồn tại mà sau đó có thể trở thành “nút thắt cổ chai”? Các nhà nghiên cứu nên giúp các chính phủ quyết định lĩnh vực nào xứng đáng được trợ cấp, lĩnh vực nào phải đối mặt với một tương lai ảm đạm và cách thức chuyển đổi năng lượng có thể được khuyến khích.

Những tác động kinh tế lâu dài sẽ là gì?

Năm tới sẽ mang lại sự rõ ràng về xu hướng 'phi toàn cầu hóa' và chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Một số nhà kinh tế dự đoán rằng việc chuyển về nước sẽ làm chậm quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu khi thị trường bị phân mảnh. Các nhà nghiên cứu cũng cần theo dõi điều gì xảy ra với sự phân công lao động toàn cầu đã thúc đẩy sự phát triển của công nghệ sạch và cắt giảm chi phí tấm pin mặt trời ngay từ đầu – sự kết hợp giữa đổi mới ở Hoa Kỳ, đầu tư của Trung Quốc vào sản xuất và trợ cấp ở châu Âu. Nếu các quốc gia hành động cô lập và cạnh tranh nhau, vòng tròn này sẽ mang lại hậu quả xấu.

Năm nay, chính phủ đã thực hiện các biện pháp can thiệp tài chính lớn vào thị trường năng lượng, ngoài việc quản lý khủng hoảng. Kể từ tháng 9 năm ngoái, các chính phủ châu Âu đã dành hơn 700 tỷ euro (tương đương 743 tỷ đô la) trợ cấp năng lượng để giảm bớt khó khăn cho các gia đình và doanh nghiệp phải đối mặt với mức giá cao kỷ lục (xem ‘Tăng chi phí năng lượng’, bảng dưới). Các công ty năng lượng cũng nhận được hỗ trợ; một số đã được quốc hữu hóa, bao gồm cả ở Đức và Pháp. Nền tảng Năng lượng EU, nơi sẽ tập hợp các giao dịch mua bán khí đốt tự nhiên (và sau này là hydro), tương đương với một cartel. Các nhà nghiên cứu cần đặt câu hỏi liệu những sự kiện này là những ngoại lệ tạm thời hay định hướng lại lâu dài. Điều đang bị đe dọa là ý tưởng về các thị trường toàn cầu mở thúc đẩy việc phân bổ hiệu quả nguồn lực khan hiếm, thay vì lập kế hoạch từ trên xuống như nhà nước đang làm.

Khủng hoảng năng lượng đang làm trầm trọng tình trạng bất bình đẳng trong và giữa các nước. Những hộ gia đình dễ bị tổn thương và các quốc gia thu nhập thấp và trung bình đã bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi chi phí năng lượng tăng vọt. Hậu quả là rất nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng năng lượng có thể lan sang thành cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng nợ- gánh nặng nợ của các nước đang phát triển đã đạt mốc cao nhất trong vòng 50 năm qua sau đại dịch Covid-19 (xem go.nature.com/3hnrcky). Các nền kinh tế dễ bị tổn thương có thể thấy các ngành công nghiệp của họ bị thu hẹp. Hỗ trợ nhà nước theo hình xoắn ốc cho các lĩnh vực dễ bị tổn thương làm cạn túi chính phủ và làm giảm lượng dự trữ ngoại hối, với nguy cơ tăng xếp hạng rủi ro cho vay tài chính.

Các nhà nghiên cứu phải đánh giá tác động đối với các chính sách quốc gia và các chính sách viện trợ, cho vay và phát triển. Họ nên làm sáng tỏ mức độ gia tăng nghèo năng lượng, cú sốc giá năng lượng và lạm phát do năng lượng làm suy yếu sự gắn kết xã hội và đe dọa sự ổn định chính trị. Các quốc gia giàu cũng có thể bị ảnh hưởng, điển hình như các cuộc biểu tình ở Vương quốc Anh và Cộng hòa Séc.

Khủng hoảng năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hành động vì khí hậu như thế nào?

Sự chia rẻ ở đây có khả năng nghiêm trọng. Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình không vui vẻ gì với các phản ứng của phương Tây trước khủng hoảng năng lượng; các quốc gia giàu đang chuyển sang sử dụng than đá để thay thế cho nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga trong khi kêu gọi các nước nghèo hơn cố gắng hết sức để khử carbon.

Khi ngân sách bị ảnh hưởng, các nước giàu sẽ tụt hậu xa hơn so với các mục tiêu tài chính khí hậu của họ (xem Nature 598, 400–402; 2021). Các sáng kiến khí hậu phân chia các quốc gia thành những khối thương mại- như các tổ chức khí hậu quản lý thuế quan đối với carbon có trong hàng nhập khẩu, như G7 đã đề xuất- có thể tạo ra căng thẳng giữa các nước giàu và nghèo nếu đề xuất không phù hợp với nguyên tắc chung nhưng lại tạo ra vai trò trách nhiệm khác nhau giữa các nước trong hành động khí hậu toàn cầu6.

Các nhà khoa học xã hội và chính trị cũng như các nhà kinh tế cần xác định cơ chế song phương, khu vực và đa phương nào phù hợp nhất để thúc đẩy tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ và xây dựng năng lực như đã cam kết theo hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Cần kiểm tra lại các biện pháp carbon xuyên biên giới6.

Sau những ủng hộ tại cuộc họp khí hậu COP27, các nhà nghiên cứu cũng cần phải thiết kế một ‘quỹ tổn thất và thiệt hại’ để đền bù cho các nước chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu. Một quỹ như vậy nên có hình thức gì, loại hoạt động nào nó nên hỗ trợ và nó có thể được các nước giàu tài trợ như thế nào và với điều kiện gì, tất cả cần được quyết định. Nếu không, căng thẳng giữa các nước sẽ gia tăng và có nguy cơ làm đình trệ các cuộc đối thoại khí hậu- làm mất thời gian chúng ta có.

Khủng hoảng năng lượng là một cơ hội cũng như thách thức. Khi đồng hồ điểm sang năm 2023, các nhà nghiên cứu phải đưa ra câu trả lời để bảo vệ quá trình chuyển đổi năng lượng xanh.

Tài liệu tham khảo

  1. BloombergNEF. Mobilizing Capital Into Emerging Markets and Developing Economies (BloombergNEF, 2022).

  2. International Energy Agency. World Energy Investment 2022 (IEA, 2022).

  3. Eicke, L. & Goldthau, A. Environ. Sci. Policy124, 370–379 (2021).

  4. Global Climate Alliance Collaborative. Global Climate Alliance For Accelerated Climate Action (Multinational Development Policy Dialogue Brussels & Konrad Adenauer Foundation, 2022).

  5. Hall, P. & Soskice, D. (eds) Varieties of Capitalism (Oxford Univ. Press, 2001).

  6. Tagliapietra, S. & Wolff, G. B. Nature 591, 526–528 (2021).

Nguồn: Nature

Từ khóa: chuyển đổi năng lượng xanh, khủng hoảng năng lượng, COP27

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804263
Go to top