Một mùa hè choáng váng đối với nước Mỹ. Cháy rừng, lũ lụt và mất điện xảy ra trong khi người Mỹ đang cố gắng thoát khỏi những tác động của đại dịch COVID-19. Vấn đề phức tạp là sự thiếu hụt của mọi thứ, từ gỗ, thép đến hàng tiêu dùng và ô tô. Sự gián đoạn chuỗi cung ứng này là kết quả đáng tiếc của việc Mỹ phụ thuộc quá nhiều vào mạng lưới nhập khẩu toàn cầu. Để thay đổi điều này và bắt đầu xây dựng lại cơ sở sản xuất quốc gia, Quốc hội và Tổng thống Biden phải khắc phục mô hình thương mại còn nhiều lỗ hổng của Mỹ. Và bước quan trọng để thực hiện được việc này là phải khắc phục tình trạng đồng USD đang được định giá quá cao.
Trong nhiều tháng qua, tin tức tập trung nói về vấn đề thị trường tiếp tục bị gián đoạn chuỗi cung ứng nghiêm trọng. Ví dụ, tình trạng thiếu chip vi mạch trên toàn cầu đã buộc Toyota phải cắt giảm 40% sản lượng. Trong khi chờ các bộ phận bị thiếu, GM và Ford đang phải lưu kho những chiếc xe chưa hoàn chỉnh trong bãi đậu xe của sân bay và trường đua. Ban đầu, các nhà kinh tế tin rằng những vấn đề này sẽ nhanh chóng biến mất. Nhưng giờ đây, các chuyên gia cảnh báo rằng người tiêu dùng có thể phải chấp nhận sự chậm trễ này như là một điều "bình thường mới".
Tuy nhiên, điều này không có gì quá ngạc nhiên. Việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đã khiến Mỹ phải phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng dài quá mức và dễ bị tổn thương. Kết quả là sự thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và sự thâm hụt thương mại sản xuất của Mỹ tiếp tục tăng. Trên thực tế tại Mỹ, tỷ trọng nhập khẩu của ngành sản xuất chế tạo đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 1997 và thâm hụt thương mại của các sản phẩm chế tạo đang có khả năng đạt mức cao nhất mọi thời đại vào năm 2021, vượt quá 1 nghìn tỷ USD.
Việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu là mối đe dọa ngày càng tăng đối với an ninh kinh tế và đối ngoại của Mỹ. Sau đây là một vài ví dụ. Trong giai đoạn đầu của đại dịch, Trung Quốc đã hạn chế xuất khẩu một sản phẩm cực kỳ cần thiết: thiết bị bảo hộ cá nhân. Tương tự, gần 3/4 trong số 40 biệt dược phổ biến nhất được nhập khẩu. Trong số gần 1.000 nhà máy đang ở nước ngoài, nhiều nhà máy cung cấp dược phẩm cho người tiêu dùng chưa bao giờ được đăng ký hoặc kiểm tra bởi Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ. Điều này khiến sự an toàn và an ninh của dịch vụ chăm sóc y tế tại Mỹ gặp nhiều rủi ro. Tương tự như vậy, một nghiên cứu của Lầu Năm Góc vào năm 2018 kết luận rằng, quân đội Mỹ quá phụ thuộc vào hàng loạt mặt hàng nhập khẩu, bao gồm vi mạch được sử dụng trong vệ tinh, tên lửa hành trình, máy bay không người lái và điện thoại di động.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá phụ thuộc vào nhập khẩu. Qua hơn ba mươi năm thực hiện các thỏa thuận thương mại tự do, các công ty đa quốc gia của Mỹ thường yêu cầu hoặc khuyến khích sản xuất tại các công ty đặt ở các quốc gia có mức lương thấp như Mexico, Trung Quốc và gần đây là Việt Nam. Việc thiếu hụt càng trở nên trầm trọng bởi “Chính sách đồng đô la mạnh” được cả các cựu Bộ trưởng Tài chính thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa - bao gồm Robert Rubin, Larry Summers và Henry Paulson ủng hộ.
Tất cả các vị quan chức này đều đến từ Phố Wall (và quay trở lại Phố Wall sau khi hết nhiệm kỳ). Điều quan trọng là Phố Wall và các công ty đa quốc gia đều thích “đồng đô la mạnh” vì nó làm cho hàng nhập khẩu rẻ hơn. Nhưng nó cũng sẽ khiến lao động trong nước phải cạnh tranh với lao động ở nước ngoài có mức lương thấp. Kết quả là, tiền lương cho công nhân sản xuất của Mỹ bị ảnh hưởng. Trong khi đó, mặc dù các doanh nghiệp nhỏ độc lập tại Mỹ (Main Street) đã bị mất hơn 5 triệu việc làm trong lĩnh vực sản xuất và 91.000 nhà máy kể từ năm 1997, phía thị trường chứng khoán và các ngân hàng ở Phố Wall vẫn thu được lợi nhuận khổng lồ từ kết quả của quá trình toàn cầu hóa và sự phụ thuộc ngày càng tăng vào nhập khẩu.
Xây dựng lại chuỗi cung ứng trong nước sẽ là yếu tố cần thiết cho sự thành công của chiến lược “Xây dựng lại những điều tốt đẹp hơn” (Build Back Better) do chính quyền tổng thống Biden đề ra với mục tiêu đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nhiều ngành công nghiệp chủ chốt trong nước hiện đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc.
Năm ngoái, Bộ Thương mại đã mở một cuộc điều tra an ninh quốc gia về khả năng thiếu hụt các thành phần chính của máy biến áp điện được làm từ thép silic kỹ thuật điện có định hướng. Hiện chỉ có một nhà sản xuất thép chuyên dụng này tại Mỹ là AK Steel, một công ty con của Cleveland-Cliffs. Hiện các nhà máy của Cleveland ở Ohio và Pennsylvania đang bị đe dọa bởi hàng nhập khẩu. Đảm bảo nguồn cung cấp các nguyên liệu quan trọng là điều cần thiết để xây dựng lại cơ sở hạ tầng của Mỹ và đảm bảo rằng những khoản đầu tư này tạo ra nhiều công việc làm ở trong nước chứ không phải ở nước ngoài.
Quốc hội và Tổng thống Biden hiện đang xem xét các khoản đầu tư trị giá hàng trăm tỷ USD cho sản xuất, nghiên cứu, đào tạo lực lượng lao động và các chương trình có liên quan. Nhưng những kế hoạch này chỉ có hiệu quả nếu Washington thực hiện các bước nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất Mỹ và tạo ra nhu cầu đối với các sản phẩm chế tạo do Mỹ sản xuất. Nhưng trên thực tế, dù sự phục hưng của ngành sản xuất rất tiềm năng, quốc gia này vẫn sẽ có sự phụ thuộc ngắn hạn vào các chuỗi nhập khẩu mà hiện cũng đang bị khan hiếm.
Nhận thức được tình hình nghiêm trọng này, phương thức thực tế nhất để kích cầu hàng hóa do Mỹ sản xuất là làm cho giá cả hàng hóa trở nên cạnh tranh hơn. Điều đó chỉ có thể được thực hiện bằng cách điều chỉnh lại đồng USD và giảm giá trị của nó khoảng 25% so với tiền tệ của Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia công nghiệp khác hiện đang được có thặng dư thương mại với Mỹ.
Đồng USD được định giá quá cao là động cơ để thúc đẩy nhập khẩu. Kể từ tháng 7 năm 2014, đồng USD đã tăng gần 21% nhờ vào một lượng lớn vốn tư nhân từ nước ngoài liên tục tràn vào thị trường tài chính Mỹ, làm giàu cho Phố Wall và các ngân hàng tại đó. Đồng USD ngày càng tăng đang làm cho hàng xuất khẩu của Mỹ có giá ngày càng đắt hơn và làm giá bán lẻ của hàng nhập khẩu giảm đi.
Một số người trong Quốc hội đã nắm bắt được mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Đạo luật lưỡng đảng của Thượng viện được đưa ra vào năm ngoái sẽ giải quyết việc đồng USD bị định giá quá cao bằng cách đánh thuế các hoạt động mua tài sản tài chính của Mỹ từ nước ngoài. Nhưng hành động khắc phục này có thể được thực hiện nhanh chóng thông qua hoạt động điều hành của chính quyền Tổng thống Biden.
Thâm hụt thương mại ngày càng tăng là một điểm yếu của ngành sản xuất Mỹ. Trong khi gián đoạn nguồn cung và bong bóng giá phát sinh từ cuộc khủng hoảng COVID-19 có thể sẽ biến mất dần trong một hoặc hai năm tới, mối đe dọa do sự phụ thuộc quá mức vào nhập khẩu sẽ tăng ngày một nhanh hơn.
Cho đến khi Washington chịu đối mặt với việc đồng USD được định giá quá cao, quốc gia này vẫn sẽ phải chịu sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Điều chỉnh lại đồng USD là công cụ hiệu quả nhất hiện có để tái cân bằng thương mại, xây dựng lại ngành sản xuất của Mỹ và loại bỏ tình trạng thiếu hụt chuỗi cung ứng do quá trình toàn cầu hóa của Mỹ gây ra.
Robert E. Scott là nhà kinh tế học cao cấp tại Viện Chính sách Kinh tế (EPI).
Nguồn: The Hill
Từ khóa: chuỗi cung ứng, Mỹ
Các tin khác
- Tại sao lại có sự khan hiếm container, và ảnh hưởng của nó đến hoạt động thương mại quốc tế là gì? - 17/09/2021
- Tại sao Trung Quốc lại xin gia nhập CPTPP và các nước thành viên được gì, mất gì với sự hiện diện của Bắc Kinh? - 17/09/2021
- Ba điểm khác biệt của thỏa thuận Mỹ-Anh-Australia (AUKUS) - 17/09/2021
- Hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp Việt Nam khi các nước tăng cường sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại - 17/09/2021
- Vì nghề cá có trách nhiệm của Việt Nam - 17/09/2021






















