
Với giá trị xuất khẩu đạt 29 tỷ USD, Việt Nam đã vượt qua Bangladesh trên thị trường may mặc toàn cầu và trở thành nhà xuất khẩu hàng may sẵn (RMG) lớn thứ hai thế giới. Bangladesh hiện đứng ở vị trí thứ ba, và Trung Quốc giữ vị trí đầu tiên.
Chuyện này không có gì đáng ngạc nhiên vì Việt Nam đã đuổi sát nút Bangladesh trong gần một thập kỷ qua. Còn Bangladesh bị Trung Quốc bỏ xa ở vị trí thứ 2 trong gần 20 năm. Là một quốc gia có thế mạnh về xuất khẩu hàng may mặc, Bangladesh chiếm 6,5% thị trường xuất khẩu toàn cầu so với thị phần thống trị của Trung Quốc (35%), nhưng đang có chiều hướng giảm dần.
Trong khi đó, Việt Nam đã trở thành cường quốc xuất khẩu thế kỷ 21, đa dạng hàng hóa xuất khẩu. Trong năm 2020, giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 281 tỷ USD, tăng 6,4%, trong khi xuất khẩu của thế giới giảm 7,8% và của Bangladesh giảm 17%.
Mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch, tỷ trọng xuất khẩu toàn cầu năm 2020 của Việt Nam vẫn tăng trưởng, tiếp tục củng cố vai trò trong chuỗi cung ứng và sản xuất toàn cầu. Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam năm 2020 đạt 29 tỷ USD, vượt qua kim ngạch xuất khẩu 28 tỷ USD của Bangladesh, trở thành quốc gia xuất khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc.
Chưa thể khẳng định được đây là một chuyển biến nhất thời hay là xu hướng lâu dài. Để có kết luận rõ ràng, chúng ta cần đánh giá kỹ vấn đề hơn.
Thứ nhất, Việt Nam đã xử lý tốt đại dịch Covid một cách ấn tượng để giữ cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu phát triển mạnh trong năm 2020.
Thứ hai, cho đến nay Việt Nam vẫn là nước hưởng lợi từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung khiến dòng vốn FDI ồ ạt chuyển hướng từ Trung Quốc sang Việt Nam, bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng của Hoa Kỳ đang tiếp tục hồi phục.
Gần đây số lượng đơn hàng chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam đã có sự gia tăng đáng kể. Do đó, năm 2020 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng 26%, góp phần giúp thị phần của Việt Nam tại Hoa Kỳ tăng lên 2,7% (so với mức 1,9% năm 2017). Đặc biệt, thị phần của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ trong lĩnh vực may mặc đã tăng lên.
Thứ ba là độ phủ sóng ngày càng nhiều của Việt Nam với hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết, đáng chú ý nhất là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và một số Hiệp định thương mại tự do song phương với Nhật Bản, Úc, New Zealand, Việt Nam đã đạt được mức thuế gần như bằng 0 đối với hơn 50% thị trường thế giới. Chính sự kết hợp giữa FDI và các FTA đã khiến Việt Nam trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm trong dài hạn.
Tuy nhiên, sự khác biệt rõ rệt giữa Việt Nam và Bangladesh về cơ cấu ngành may mặc và tiềm năng xuất khẩu là điều đáng phải suy ngẫm. Ngành may mặc của Việt Nam được chia làm 2 phân khúc, đó là các nhà sản xuất trong nước ít quan tâm đến xuất khẩu và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ hoạt động xuất khẩu.
Hầu hết hàng dệt may trong nước không đạt chất lượng xuất khẩu và các nhà sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu hàng dệt trong nước. Về xuất khẩu, hơn 90% thuộc về các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, khi mà các sản phẩm đầu vào được nhập khẩu từ mạng lưới toàn cầu của các công ty trên và việc xuất khẩu được điều phối từ trụ sở chính ở nước ngoài.
Điều này không chỉ đúng đối với lĩnh vực dệt may mà còn đúng đối với các ngành sản xuất khác như điện tử, máy tính, điện thoại di động… Xuất khẩu hàng điện tử và điện thoại di động của Việt Nam đã có sự tăng trưởng phi thường trong những năm gần đây, trở thành nhà xuất khẩu điện thoại di động đứng thứ 2 trên thế giới (khoảng 50 tỷ USD và đứng sau Trung Quốc). Việt Nam cũng là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2, sau Brazil, nhưng có tiềm năng trở thành nước sản xuất và xuất khẩu cà phê số 1 thế giới. Về xuất khẩu gạo, Việt Nam đứng thứ 2, sau Ấn Độ.
Điều thú vị là với rổ hàng hóa xuất khẩu đa dạng, phong phú, Việt Nam đứng vị trí thứ hai trong các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về một số mặt hàng chứ không chỉ duy nhất hàng may mặc. Với xu hướng này, Việt Nam có khả năng trở thành nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới về một số sản phẩm.
Dệt may và may mặc luôn nằm trong nhóm xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Theo Oxford Economics, một công ty phân tích và dự báo toàn cầu hàng đầu đặt tại Oxford, Vương quốc Anh, tại Việt Nam ngành công nghiệp này hiện có hơn 6 ngàn công ty sản xuất hàng dệt may và may mặc, sử dụng khoảng 2,5 triệu lao động. Với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, Việt Nam đã nhanh chóng bắt kịp Bangladesh sau hơn 10 năm.
Từ dữ liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc Bangladesh (BGMEA), số lượng công ty tại đây vào khoảng 4.500, trong đó có khoảng 1.000 công ty có thể đóng cửa hoặc hoạt động không liên tục. Không có số lượng chính thức vế số lao động trong lĩnh vực này tại Bangladesh, số liệu ước chừng khoảng 4 triệu lao động.
Những số liệu trên đã cho thấy năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đang gần bằng Bangladesh, mặc dù lực lượng lao động ít hơn 1,5 triệu người. Đầu tư vào giáo dục và phát triển kỹ năng của Việt Nam rõ ràng đang đem lại trái ngọt.
Bangladesh đang trên đà phục hồi với mức tăng trưởng 15% trong năm tài chính 2021 và triển vọng cho năm tài chính 2022 có vẻ khả quan khi sản lượng toàn cầu được dự báo vững chắc và tăng trưởng thương mại trong hai năm tới.
Các báo cáo về khối lượng đơn đặt hàng xuất khẩu tăng cao cho thấy năm 2021 xuất khẩu hàng may mặc của Bangladesh có thể quay trở lại mức trước đại dịch là 33-34 tỷ USD, trong khi đó Việt Nam khó có thể bắt kịp con số này trong vòng một năm. Bangladesh có thể trở lại vị trí số 2 trong một hoặc hai năm nữa.
Trong lĩnh vực may mặc và điện tử, Việt Nam đã theo đuổi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn mà không quan tâm đến giá trị gia tăng trong nước, nhận được dòng vốn 28 tỷ USD (11% GDP) vào năm 2020. Mục tiêu của Việt Nam luôn là mở rộng xuất khẩu và nắm bắt thị trường thế giới. Trong lĩnh vực may mặc, Việt Nam nhập khẩu 85-90% nguyên liệu đầu vào (vải và phụ kiện), đối với điện tử, thị phần nhập khẩu thậm chí còn nhiều hơn. Giá trị gia tăng trong nước góp phần vào xuất khẩu là rất thấp, bằng chứng là kim ngạch xuất khẩu 281 tỷ USD vào năm 2020 đã vượt quá GDP của Việt Nam là 260 tỷ USD. Điều đó xảy ra đối với các nền kinh tế có định hướng thương mại cao (như Singapore).
Việt Nam thực hiện chiến lược thu hút đầu tư bằng cách đưa ra các ưu đãi tài chính hào phóng, cải thiện quy định kinh doanh và nâng cao chất lượng của lao động. Kể từ giữa năm 2000, chính phủ Việt Nam đã đưa ra các ưu đãi tài chính cực kỳ cạnh tranh dành cho các doanh nghiệp muốn thiết lập hoạt động trong nước, ngoài thuế khấu lưu bằng 0% đối với cổ tức chuyển ra nước ngoài và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thấp, chỉ 20%. Trên hết, các quy định về kêu gọi FDI còn quy định hàm lượng địa phương tối thiểu - một yếu tố kìm hãm FDI điển hình. Những lợi thế này đã giúp Việt Nam trở thành một “nền kinh tế thu hút” hàng đầu trong mắt nhiều doanh nghiệp.
Kết quả là, FDI vào Việt Nam không chỉ mang lại nguồn vốn dồi dào mà còn tạo ra công ăn việc làm dựa trên kỹ năng nghề nghiệp, truyền thông đổi mới, cải tiến quản lý, mở rộng bán lẻ ra thị trường các nước phát triển, nâng cấp các mặt hàng may mặc có giá trị gia tăng cao (bằng sợi nhân tạo) và hàng điện tử, v.v.
Cho đến nay mặc dù tác động lan tỏa của khối lượng FDI không được cho là đáng kể, nhưng nó chỉ là vấn đề thời gian khi mà điều này dẫn đến sự nâng cao chất lượng, quản lý và đổi mới rộng rãi các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam càng ngày càng được đánh giá cao về vị thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Mặt khác, Bangladesh có một ngành công nghiệp may mặc với phần lớn quyền sở hữu và quản lý thuộc về các doanh nghiệp trong nước, ngoại trừ một phần nhỏ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đặt tại các khu chế xuất. Ngay từ đầu, Bangladesh đã áp dụng tất cả các chính sách đúng đắn để tận dụng tối đa lợi thế so sánh của mình đối với mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động này và đạt được vị trí số 2 toàn cầu trong một thời gian dài.
Tuy nhiên, để đi trước Việt Nam về xuất khẩu hàng may mặc, Bangladesh hiện cần phải làm hai việc: thứ nhất, phải khơi thông dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất hàng đầu của mình là hàng may mặc gia công (RMG); thứ hai, phải tăng cường ký kết các FTA trước khi chính thức không còn là quốc gia kém phát triển nhất (LDC) vào năm 2026. Nếu không thực hiện 2 biện pháp trên, Bangladesh có thể bị trượt xuống vị trí thứ 3 trong vòng 5 năm tới.
Kết luận, giống như Bangladesh đang được công nhận vì đã thử nghiệm thành công trong quá trình phát triển, Việt Nam đã tạo ra một bước ngoặt mới cho mô hình tăng trưởng dẫn đầu về xuất khẩu, một mô hình phát triển đột phá trong những năm 1970, câu chuyện thành công của xuất khẩu, tăng trưởng nhanh chóng được chứng minh bởi các nền kinh tế Đông Á.
Dưới thời Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã ghi dấu ấn với việc chuyển sang mở cửa thương mại và hội nhập toàn cầu bắt đầu từ những năm 1980, đánh dấu thương hiệu về chủ nghĩa xã hội với định hướng thị trường - trong nước và quốc tế. Việt Nam ngay sau đó đã thực hiện công cuộc Đổi mới vào năm 1984 với hình thức chủ nghĩa xã hội định hướng thị trường cũng bao gồm mở cửa thương mại và tăng trưởng dẫn đầu về xuất khẩu, nhưng ở một kiểu mới. Việt Nam đã áp dụng một phiên bản mới của tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu nhờ thúc đẩy FDI và nhiều Hiệp định thương mại tự do.
Nguồn: The Financial Express
Từ khoá: xuất khẩu, dệt may, may mặc, Việt Nam, Bangladesh.
Các tin khác
- EVFTA sau 1 năm thực thi: Chưa tận dụng hết lợi thế - 30/08/2021
- Sự trở lại thực chất của Mỹ tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương - 30/08/2021
- Doanh nghiệp Việt Nam- Singapore liên kết khai thác thị trường EU, Anh - 30/08/2021
- Ngăn chặn nguy cơ “chiếm đoạt” thuế từ nhập khẩu hạt điều - 27/08/2021
- Cần đội tàu biển xứng với tiềm năng kinh tế biển - 27/08/2021






















