JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếHoa Kỳ kêu gọi các nước giảm phụ thuộc, trong khi Trung Quốc vẫn tăng thị phần thương mại toàn cầu trong thời kỳ đại dịch

Hoa Kỳ kêu gọi các nước giảm phụ thuộc, trong khi Trung Quốc vẫn tăng thị phần thương mại toàn cầu trong thời kỳ đại dịch

trung my

Các nhà phân tích cho rằng những lời kêu gọi giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc rất khó thành hiện thực khi tỷ trọng thương mại toàn cầu của nước này tăng vọt. Điều đó chứng tỏ rằng việc cắt đứt quan hệ thương mại với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới không hề dễ dàng.

Người đứng đầu bộ phận Kinh tế Châu Á tại Oxford Economics, Louis Kuijs, cho biết Trung Quốc sẽ duy trì vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch COVID-19 dù Washington và một số nước phương Tây khác có cố gắng như thế nào.

Trong suốt quá trình đại dịch bùng phát và lây lan, Trung Quốc đã nỗ lực đẩy mạnh cải thiện chuỗi cung ứng, bao gồm cắt giảm phí vận tải và đảm bảo hậu cần cảng thông suốt.

Kuijs cho hay: “Trung Quốc đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, đóng vai trò chủ chốt trong các chuỗi cung ứng toàn cầu đã phát triển suốt những thập kỷ gần đây. Vai trò này còn chặt chẽ, bền chắc hơn so với những gì nhiều người nghi ngờ”.

Theo Capital Economics, thị phần xuất khẩu toàn cầu của Trung Quốc đã tăng lên khoảng 18% vào đầu năm 2021, nhất là ở các thị trường phát triển. Dù nhiều nước lên tiếng kêu gọi giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc, thị phần xuất khẩu của quốc gia này sang các nước phát triển vẫn tăng vọt lên gần 25% vào năm 2020 trước khi giảm nhẹ còn trên 20% trong năm nay.

Trước đại dịch năm 2019, tỷ trọng xuất khẩu toàn cầu của Trung Quốc đã tăng khoảng 16%, trong đó, xuất khẩu sang các nước phát triển tăng 20%.

Kuijs nói: “Rất ít quốc gia đạt được tăng trưởng thương mại trong thời gian qua”. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn xuất khẩu mạnh mẽ sang các nước phát triển dù giá trị thương mại có giảm nhẹ sau đại dịch. Điều này chứng tỏ Trung Quốc vẫn là một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng.

Trong cuộc chiến thương mại với Mỹ, trừng phạt thuế quan đã làm chậm xuất khẩu của Trung Quốc đôi chút. Tuy vậy, theo các chuyên gia kinh tế, các nhà nhập khẩu ở những nước phát triển rất khó chuyển sang các nguồn cung ứng khác vào lúc này.

Thị phần của Trung Quốc trong thương mại toàn cầu ngày càng tăng. Theo Yukon Huang, thành viên cấp cao của chương trình Châu Á tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế (Carnegie Endowment for International Peace) cho biết, đây chính là bằng chứng cho thấy các công ty định hình bản chất của chuỗi cung ứng chứ không phải chính phủ.

Huang cho biết thêm, mặc dù các gánh nặng thuế quan trong chiến tranh thương mại đã tạo ra một số phân tách, nhưng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ đã sớm phục hồi.

Hơn nữa, Trung Quốc còn có thể lách thuế quan của Mỹ bằng cách chuyển địa điểm sản xuất sang các nước láng giềng giá rẻ như Indonesia và Việt Nam, nhất là ngành sản xuất các sản phẩm như quần áo và đồ nội thất. Friedrich Wu - phó giáo sư trợ giảng tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam của Singapore - cho biết Trung Quốc vẫn giữ được vị thế là “công xưởng của thế giới”.

Ông cho biết thêm, hàng hóa xuất khẩu “Sản xuất tại Việt Nam” hoặc “Sản xuất tại Indonesia” là những sản phẩm được lắp ráp tại Việt Nam hoặc Indonesia theo đặt hàng của các nhà sản xuất Trung Quốc đầu tư vào các quốc gia đó.

Wu nói: “Không quốc gia nào khác có thể sánh ngang với “mạng lưới chuỗi cung ứng tinh vi” của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là việc tách rời khỏi nguồn cung ứng của Trung Quốc vẫn chỉ là “tư duy mơ mộng giữa các chính trị gia và nhà hoạch định chính sách Mỹ thiếu chuyên môn về kinh tế”. Thực tế đơn giản là, chính phủ Hoa Kỳ - với tư cách một xã hội đa nguyên, có nhu cầu tiêu dùng cao - không thể huy động hoặc gây khó khăn cho các công ty Mỹ bỏ vốn đầu tư vào Trung Quốc và [khiến] người tiêu dùng Mỹ tìm kiếm các lựa chọn thay thế từ hàng hóa Trung Quốc”.

Kuijs cũng cho rằng trong thời kỳ đại dịch, nhu cầu đối với các sản phẩm của Trung Quốc đến từ các nước phát triển cao hơn các nước mới nổi rất nhiều.

Trưởng khoa Danny Quah và giáo sư kinh tế Li Ka Shing tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu ở Singapore cho biết, việc tách rời khỏi nguồn cung ứng của Trung Quốc vẫn có thể đạt được; tuy nhiên, vấn đề phụ thuộc vào việc liệu Mỹ và các nước phát triển có thể “chủ động tái cấu hình cả nhu cầu và nguồn cung hay không. Hiện tại, phương Tây có nhu cầu nội địa vượt trội so với nguồn cung trong nước [và các nguồn cung khác ngoài Trung Quốc], vì vậy các nước này buộc phải bắt đầu mua hàng từ Trung Quốc. Khi tình trạng này còn tiếp tục thì việc tách rời sẽ không xảy ra.

Về lâu dài, nếu nhu cầu thay đổi, phương Tây có thể cố gắng tăng nguồn tự cung. Tuy nhiên, liệu phương Tây có nhanh chóng xây dựng được những sản phẩm thay thế cho ngành sản xuất và liệu ngành công nghiệp Trung Quốc có hiệu quả hay không, hơn hết, tình hình cạnh tranh sẽ khốc liệt đến mức nào?

Theo Kuijs, lĩnh vực mà quá trình phân tách có thể diễn ra nhanh chóng là các ngành công nghiệp quan trọng và chiến lược như quốc phòng. Tại cuộc họp của diễn đàn quản lý tài sản Funds Congress đầu năm nay, Jack Bouroudjian, nhà kinh tế trưởng và đồng sáng lập của Universal Compute Exchange, cho biết trong thập kỷ qua, nhiều nhà sản xuất trong ngành công nghiệp xe điện ở Mỹ và toàn cầu đang phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc, bởi lẽ các nhà sản xuất này cần nhập nhiều linh kiện để phục vụ sản xuất vũ khí hoặc điện thoại thông minh.

Bouroudjian nói: “Sự phụ thuộc nguồn cung sẽ gây ra nhiều trở ngại, các chuỗi cung ứng sẽ bị thay đổi. Toàn cầu hóa và cạnh tranh sẽ chuyển thành chủ nghĩa khu vực. Chủ nghĩa khu vực có thể trở thành liều morphine đối với toàn cầu hóa”.

Trong Tạp chí Harvard Business Review, giáo sư J. Stewart Black của trường kinh doanh INSEAD và giáo sư Allen J. Morrison về quản lý toàn cầu tại bang Arizona cho biết, dù các công ty không bị buộc phải đa dạng hóa, song các giám đốc điều hành vẫn chịu áp lực đối với điều này, do các công ty Mỹ ở Trung Quốc sẽ được yêu cầu giải trình cho sự hiện diện của họ tại quốc gia này.

Theo hai giáo sư: “Đây là điều không thể tránh khỏi. Điều này sẽ dẫn tới một sự thay đổi lớn. Các công ty cần đánh cuộc an toàn, đồng thời, số lượng doanh nghiệp cũng sẽ giảm đi. Thêm vào đó, nếu các công ty này thuộc những ngành công nghiệp trọng điểm của Trung Quốc, thì họ vẫn sẽ cần những đề xuất có giá trị hấp dẫn đến mức khách hàng Trung Quốc vẫn lựa chọn họ bất chấp mục tiêu của chính phủ”.

Một ví dụ về điều đó là Chính quyền Biden đã đưa ra lời khuyên cho các doanh nghiệp Mỹ về việc rà soát lại dây chuyền sản xuất liên quan đến các sản phẩm do Tân Cương sản xuất, nếu không sẽ phải đối mặt với nguy cơ gây tổn hại danh tiếng.

Giám đốc Kinh tế Châu Á của Capital Economics, Mark Williams, cho hay phía Mỹ đang cố gắng nhanh chóng đảm bảo nguồn cung cấp các thành phần thiết yếu như chất bán dẫn bằng cách thúc đẩy sản xuất trong nước. Ông cho biết sự gia tăng xuất khẩu gần đây sẽ là “dấu ấn lớn về vai trò của Trung Quốc với tư cách là nhà xuất khẩu toàn cầu. Những nỗ lực nhằm mục tiêu dịch chuyển nhà máy sản xuất hiện đang bị ảnh hưởng do nhu cầu trong thời kỳ đại dịch gia tăng. Điều này sẽ làm thay đổi bối cảnh kinh tế trong những năm tới”.

Nguồn: SCMP

Từ khóa: chiến tranh thương mại Mỹ- Trung

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008796565
Go to top