
Như mong đợi, Thủ tướng Anh Boris Johnson và người đồng cấp Úc Scott Morrison đã đồng thuận trên nguyên tắc về việc ký kết một hiệp định thương mại tự do. Nội dung của thỏa thuận tuy vẫn chưa được công khai toàn diện nhưng tác động về mặt kinh tế của nó là khá rõ ràng.
Điều đầu tiên cần chú ý chính là tốc độ đàm phán. Các cuộc thảo luận song phương mới chỉ được bắt đầu từ tháng 6/2020, do vậy việc ký kết một hiệp định giao thương trong vòng 12 tháng là rất nhanh. Đối với Anh quốc, thỏa thuận này thực sự có ý nghĩa vì đây là hiệp định thương mại đầu tiên mà nước này đàm phán sau khi rời EU, màkhông phải là ‘tái tục’một thỏa thuận hiện có của EU, hoặc đơn thuần chỉ là bản sao chép của một hiệp định có sẵn (như trường hợp của thỏa thuận với Nhật Bản).
Quá trình đàm phán hiệp định Anh – Úc thực sự cởi mở một phần là bởi xứ chuột túi là một nền kinh tế nhỏ và tự do. Ngay cả khi không tham gia một thỏa thuận giao thương với đảo quốc sương mù, Úc vẫn là một quốc gia với ít rào cản về thương mại và đầu tư từ nước Anh. Đây là lý do của việc Anh quốc tốn khá nhiều thời gian để tính toán những lợi ích mới họ có thể thu được từ việc tham gia một hiệp định giao thương với xứ chuột túi.
Ở chiều ngược lại, vốn dĩ là một đất nước mạnh về xuất khẩu nông nghiệp, Úc coi xứ sương mù là một thị trường quan trọng, đặc biệt đối với mặt hàng thịt bò, thịt cừu, sữa và các sản phẩm bánh kẹo. Hiện tại, xuất khẩu từ Úc vào thị trường Anh vẫn bị ngăn trở bởi hạn ngạch thuế quan (quy định lượng sản phẩm tối đa đươc xuất vào xứ sương mù mà không bị áp thuế).
Số liệu từ chính phủ Anh và Úc cho thấy trên nền tảng hiệp định song phương sắp được ký kết, quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ có nhiều thay đổi. Ví dụ, đối với mặt hàng thịt bò, hạn ngạch nhập khẩu hiện giờ là 3,761 tấn. Định mức đã nêu sẽ tăng lên 35,000 tấn ngay khi thỏa thuận có hiệu lực, và lên thành 110,000 tấn sau 10 năm, cuối cùng là 170,000 sau 15 năm.
Lộ trình tương tự cũng được áp dụng với sản phẩm thịt cừu; hiện tại định mức nhập khẩu loại thịt đã nêu vào thị trường Anh là 13,335 tấn. Định mức đã nêu sẽ tăng lên 25,000 tấn ngay khi thỏa thuận song phương đi vào thực thi, 75,000 tấn sau 10 năm và 125,000 sau 15 năm.
Nhiều chỉ trích đang nhắm vào những số liệu nêu trên như là căn cứ cho quan điểm chính phủ xứ sương mù đang hy sinh lợi ích của nông dân Anh quốc cho những lợi ích quá nhỏ bé – theo đó, phân tích của chính phủ Anh cho thấy lợi ích từ hiệp định đã nêu chỉ là 500 triệu Bảng trong thời gian 15 năm tương đương khoảng 0.02% GDP.
Tuy nhiên, nhìn vào tăng trưởng của GDP để xác định tầm quan trọng của thỏa thuận Anh-Úc chính là không đánh giá đúng yếu tố chính trị đằng sau chính sách thương mại của xứ sương mù sau quá trình Brexit.
Vấn đề mà các nhà lập pháp thường đối mặt khi đụng đến thương mại đó chính là, lợi ích từ những thỏa thuận thương mại thường mang tính bao trùm, trong khi đó thiệt hại lại luôn tập trung vào một nhóm cụ thể, và trong trường này là người nông dân.
Thỏa thuận giao thương và cân bằng thương mại
Hoạt động kinh doanh thường rất phức tạp và không khoan nhượng, đó là lý do tại sao các chính phủ thường giao quyền đàm phán thỏa thuận thương mại cho những cơ quan chuyên biệt, ví dụ như Văn phòng Đại diện thương mại – Hoa Kỳ hay Ủy ban châu Âu – EU.
Nước Anh hiện tại theo đuổi một hướng đi khác, thay vì ủy quyền đàm phán thương mại cho những đơn vị chuyên biệt, nhiệm vụ này lại chuyển ngược về các nhà chính trị xứ sương mù.
Từ quan điểm này có thể thấy chính sách thương mại hiện tại không phản ánh những gì mà phe ủng hộ Brexit đã hứa hẹn trong cuộc trung cầu dân ý nhiều năm trước; độngthái đã nêu cũng cho thấy sự trái ngược về mặt chính trị như trong tuyên bố của một cựu thành viên chính phủ Anh đó là xứ sương mù rời bỏ châu Âu nhằm tìm kiếm sự tự do về thiết lập chính sách giao thương “có lợi cho đất nước”.
Đối với một chiến dịch chính trị mà nền tảng của nó dựa trên diễn ngôn “quay trở lại sự tự chủ”, yếu tố trọng tâm trong chính sách thương mại của Anh quốc chính là đảm bảo lợi ích quốc gia với cơ sở là hệ thống giao thương độc lập. Với chính phủ Bảo thủ hiện tại, khả năng ký kết được các hiệp định thương mại quan trọng hơn việc đánh giá xem những lợi ích kinh tế nào họ có thể thu được từ những thỏa thuận này.
Nhìn từ khía cạnh đó, phấn khởi về việc “đàm phán được hơn 63 hiệp định với các đối tác thương mại” ngay cả khi những hiệp định này chẳng khác là bao so với phiên bản của EU trước đây cũng có thể coi là điều phù hợp.
Tuy nhiên, hiện giờ, rất khó để nước Anh tự mãn về sự tự chủ về chính sách thương mại. Với việc ký kết thỏa thuận song phương Anh-Úc, đảo quốc sương mù sẽ bước tiếp vào thời kỳ đầy khó khăn.
Đàm phán các hiệp định giao thương sẽ tạo ra nhiều rủi ro và đòi hỏi sự nhựơng bộ đầy khó khăn. Đang có dấu hiệu chỉ trích đầu tiên nhắm vào thỏa thuận thương mại Anh-Úc trong bối cảnh nội dung hiệp định đã nêu được chính phủ Anh công bố.
Căng thẳng chính trị sẽ gia tăng khi xứ sương mù tham gia đàm phán với các đối tác thương mại lớn và quyền lực hơn như Hoa Kỳ và Ấn Độ. Sự kiện Brexit đã mang sự tự chủ trong chính sách giao thương trở lại đảo quốc sương mù – do vậy, sẽ không còn chỗ cho việc các chính trị gia nước Anh đổ lỗi cho Liên minh châu Âu khi các chính sách thương mại được ban hành không hợp ý họ.
Nguồn: The Conversation
Từ khóa: Anh, Úc, hiệp định thương mại, EU
Các tin khác
- Đưa quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam - Hàn Quốc lên tầm cao mới - 25/06/2021
- Chiến lược kinh tế của Tổng thống Mỹ Joe Biden ở châu Á: Đừng để chỉ là 'lời hứa suông' - 25/06/2021
- Các nước Thái Bình Dương lo ngại bị cuốn vào “trò chơi địa chính trị” giữa Mỹ - Trung Quốc - 25/06/2021
- Tạo thuận lợi tối đa trong cấp C/O - 24/06/2021
- ASEM đóng vai trò quan trọng trong đối ngoại đa phương của Việt Nam - 24/06/2021






















