
Con người đã hướng tới toàn cầu hóa kể từ ngày đầu tiên học cách trồng trọt.
Giai đoạn 1: Những ngày đầu
Xã hội thời kỳ đồ đá rất hạn chế trong khả năng biến đổi môi trường để phù hợp với nhu cầu của họ. Họ không có động cơ máy móc hiện đại, không có vật liệu hiện đại và rất ít sự tinh xảo trong kỹ thuật chế biến. Một yếu tố rất quan trọng khác cần lưu ý ở đây là họ cũng thiếu về nguồn lực con người. Ước tính rằng, các nhóm thời kỳ đồ đá thường chỉ có từ 20 đến 25 thành viên.
Đối mặt với những hạn chế này, sẽ hợp lý hơn cho họ khi để nhu cầu (con người) đi theo sản xuất (thức ăn hoang dã). Có nghĩa là, thức ăn trong tự nhiên ở đâu, con người phải ở đó. Ngay cả khi việc xới đất trồng cây cũng là một công việc khó khăn nếu như chúng ta chỉ có những công cụ đơn giản. Hơn nữa, các nguồn tài nguyên thiên nhiên như thú rừng hoặc hoa quả cũng khá hạn chế, và chỉ tái sinh sau một khoảng thời gian - vì vậy, các cộng đồng người này sau khi khai thác xong một khu vực sẽ chuyển đến khu vực mới, hoạt động đó là điều hoàn toàn hợp lý.
Ở thời kỳ này, nhu cầu khá khiêm tốn, cả về quy mô và phạm vi. Nguồn lực địa phương đủ để nuôi sống những nhóm người, và bất cứ khi nào tình hình trở nên khó khăn, họ có thể di chuyển đi nơi khác. Kỹ thuật vẫn còn rất hạn chế, và phần lớn phụ thuộc vào các nguyên liệu thô có mặt ở khắp mọi nơi, như xương, gỗ, đá, viên nén, các loại thực vật đặc biệt. Nhu cầu quy mô nhỏ có thể được đáp ứng bằng nguyên liệu địa phương, nền tảng kỹ thuật rất kém, và tiền tệ chưa xuất hiện. Tổng hợp các yếu tố trên lại với nhau có nghĩa rằng những nhóm người này không cần tham gia vào hoạt động thương mại quy mô lớn, và rằng họ không thể làm điều đó ngay cả khi đã thử.
Chúng tôi cũng có bằng chứng khá đáng tin cậy cho thấy những người nguyên thủy có quan niệm về 'sự giàu có' khác với chúng ta ngày nay. Họ không thực sự tích lũy của cải hoặc truyền lại cho con cái. Đối với những người săn bắn hái lượm, cái họ truyền lại chỉ là công cụ săn bắn chất lượng, chắc chắn và một số kỹ năng. Sở hữu không phải là hiện tượng phổ biến, ngoài các mặt hàng thiết yếu.
Dù vậy, chúng tôi có bằng chứng cho thấy thương mại đã xảy ra, ngay cả trong thời kỳ này, mặc dù phạm vi khá hạn chế, nếu so theo tiêu chuẩn ngày nay. Những người buôn bán ban đầu dường như đã kinh doanh các mặt hàng thuộc về kỹ thuật như đá mài và các công cụ khác, và thật dễ hiểu tại sao tất cả các cộng đồng thời nay đều coi đây là những tài sản quý giá. Chúng tôi không biết họ có buôn bán những hàng hóa dễ hỏng hay không, vì những mặt hàng này sẽ không thực sự chịu được thử thách của thời gian. Ý tưởng cũng rất có thể đã di chuyển từ nơi này sang nơi khác trong mạng lưới buôn bán thời kỳ đồ đá từ rất sớm này, giống như mạng internet ngày nay nhưng với tốc độ rất chậm. Có thể con người cũng đã bắt đầu di chuyển giữa nhóm này sang nhóm khác, thông qua những nhóm thương nhân.
Một ý tưởng thú vị là những thương nhân ban đầu này còn đóng vai trò hợp nhất các nhóm khác nhau về mặt văn hóa, thông qua những ý tưởng và con người mà họ mang theo trên tuyến đường của mình. Đây có thể được coi là một quá trình toàn cầu hóa quy mô nhỏ rất sớm của các nhóm khác nhau sống trong cùng một khu vực.
Theo thời gian, dân số tăng lên và các công cụ cứng hơn đã được phát minh. Đặc biệt, sự ra đời của các kim loại như đồng dùng trong sản xuất công cụ và vũ khí đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân loại. Điều quan trọng là, ứng dụng này làm cho việc chặt cây, dọn đá và đào bới trở nên dễ dàng và đáng tin cậy hơn nhiều. Điều này rất hữu ích vì nông nghiệp đang bắt đầu cắm rễ và mọi người cần phải khai hoang để trồng trọt.
Giai đoạn 2: Nông nghiệp
Một sự thay đổi đặc biệt nổi bật đối với những người sống trong thời kỳ này là sự chuyển đổi từ lối sống du mục sang lối sống ít di chuyển. Những người săn bắn hái lượm cần phải di chuyển khắp nơi bởi vì một khu vực cụ thể nào đó đã cạn kiệt tài nguyên. Ngược lại, người nông dân cần phải ở yên một chỗ. Trên thực tế, càng ở lại lâu, họ càng kiếm được nhiều thực phẩm/của cải/hàng hóa, vì nông nghiệp dựa vào việc khai khẩn đất hoang, xây dựng kho thóc và cơ sở hạ tầng như kênh mương dẫn nước – mà tất cả những việc làm này đều cần thời gian. Đồng thời, thực phẩm có thể được sản xuất đúng tại nơi cần nó. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, sản xuất sẽ tuân theo nhu cầu chứ không phải ngược lại.
Thương mại cũng đã phát triển theo, từ những ngày đầu của thời đại đồ đồng. Khả năng vận chuyển hàng hóa trên quãng đường dài đã không cải thiện nhiều so với thời kỳ đồ đá. Vậy tại sao mọi người lại buôn bán nhiều hơn khi nông nghiệp phát triển? Đó là bởi vì là hàng hóa trong thời kỳ này đã gia tăng với một mức độ lớn hơn nhiều so với trước đây.
Các nhóm người trong thời kỳ đồ đá không được tiếp cận nhiều mặt hàng. Các hàng hóa như thực phẩm, quần áo và thuốc men thường được mọi người sản xuất cho chính mình. Các sản phẩm cao cấp hơn, như công cụ, sẽ được trao đổi - nhưng chúng thường được sản xuất bởi những người sẽ sử dụng chúng, nếu có thể. Tuy nhiên, vào thời đại đồng thau, nông nghiệp giúp cho lương thực trở nên dư dả, từ đó, giải phóng sức lao động cho một số người để họ chuyển sang những nghề khác. Vì thế mày một số nghề như thợ thủ công, linh mục, người ghi chép và các dịch vụ khác ra đời.
Việc sản xuất tất cả mọi thứ ở một nơi duy nhất là không khả thi. Một số tài nguyên thiên nhiên như kim loại, lụa, hương liệu và gia súc thì khá khan hiếm. Những bí quyết và cơ sở hạ tầng cần thiết để chế biến các tài nguyên cũng không có sẵn (ví dụ, nung gốm là một quá trình phức tạp có thể dễ thất bại) hoặc đơn giản là không có đủ người để thực hiện công việc đó. Vì vậy, những nhóm người này và các cá nhân khác nhau trong những nhóm đó sẽ sản xuất những gì họ có thể và sau đó đổi lấy bất cứ thứ gì họ cần hoặc muốn. Điều này biến các cộng đồng trước đây bị chia cắt thành các nền kinh tế đan xen (mặc dù chưa phụ thuộc lẫn nhau) – đây gọi là quá trình ‘bản địa hóa’, tương tự như toàn cầu hóa nhưng ở quy mô nhỏ hơn.
Phần lớn các giao dịch xảy ra trên toàn thế giới vào thời điểm này có thể vẫn chỉ ở hình thức hàng đổi hàng. Lúc này nổi lên khái niệm tiền đúc, cho phép hình thành các mạng lưới giao dịch phức tạp và phức tạp hơn nếu có. Chúng tôi có bằng chứng khảo cổ học về các cơ chế thương mại khá phức tạp đã được sử dụng từ ba thiên niên kỷ trước. Một ví dụ điển hình là lá thư khiếu nại khét tiếng gửi đến Ea-nasir, đề cập đến các thỏa thuận dưới hình thức hợp đồng, dàn xếp một thương vụ liên quan đến giao nhận hàng hóa là đồng “chất lượng cao” thông qua người trung gian vào một ngày sau đó, và những người được cử đi “thu tiền” khi đồng có chất lượng kém hơn mong đợi.
Điều đó không có nghĩa là ngoại thương đã không diễn ra ở thời kỳ này. Người Harappan - một nền văn minh cổ đại phát triển mạnh quanh sông Indus (ngày nay là Afghanistan) từ 5000 đến 3000 năm trước - đã xây dựng đường xá, kênh đào và các cảng thương mại. Đồ gốm của họ được tìm thấy ở tận Vịnh Ả Rập, Lưỡng Hà (khu vực Iraq-Kuwait-Syria ngày nay) và Trung Á. Điều thú vị là, mặc dù sở hữu các hệ thống đường xá cảng biển như trên và đã có các đơn vị đo lường “tiêu chuẩn”, họ vẫn hoạt động như một nền kinh tế hàng đổi hàng hoàn toàn.
Giai đoạn 2,5: Thương mại kiểu cũ
Bất chấp những hạn chế trong thời kỳ này, các mạng lưới thương mại vẫn có thể phát triển lên một tầm quy mô hết sức ấn tượng. Đây là “Giai đoạn 2.5” mà tôi đã đề cập trước đó: giai đoạn ở giữa, khi các giải pháp cơ học vẫn chưa có sẵn, nhưng một số mạng lưới thương mại đã phát triển lên quy mô tương đương với ngày nay.
Lý do chính khiến cuộc sống hiện đại của chúng ta quá thoải mái và hàng hóa dồi dào là do chúng ta có thể sử dụng nhiều năng lượng để thay đổi thế giới xung quanh. Về bản chất, đó là bởi vì chúng ta có thể thực hiện rất nhiều công việc thể chất một cách nhanh chóng. Công việc thể chất (physical work) được định nghĩa là việc sử dụng năng lượng để tác động một lực lên một phần tử từ một khoảng cách nhất định – nói theo vật lý học là để “di chuyển vật” hoặc “để điều gì đó”. Nhưng trong phần lớn lịch sử, con người hầu như chỉ biết sử dụng sức mạnh cơ bắp (của họ hoặc của động vật) để làm việc.
Để làm bánh mì tròn, ta cần phải phát quang một cánh đồng, xới đất, gieo hạt và thu hoạch ngũ cốc, sau đó xay xát, sàng lọc chất bẩn, đốn củi, lấy nước, trộn bột và nướng. Mọi công đoạn đều cần đến công việc thể chất - loại bỏ cây cối và gốc cây, nghiền hạt, bơm nước. Ngày nay, chúng ta có những cỗ máy tổng công suất hàng triệu mã lực làm việc đó thay chúng ta. Còn trong Thời đại đồng thau, chỉ có Ea-nasir, con bò của anh ta và cùng lắm là một vài nô lệ của anh ta, làm tất cả những việc đó.
Thương mại cũng chịu những hạn chế tương tự. Bạn không thể bán thứ gì đó cho người phương Bắc nếu không thể mang hàng hóa đến đó. Thậm chí khi bạn có thể mang hàng hóa đến đó với số lượng nhỏ hoặc rất chậm, đó không phải là thương vụ có lời. Đặc biệt là bạn còn đối mặt với rủi ro bị cướp trên đường.
Một giải pháp, mà đã khiến cho những người sống dọc theo bờ biển Địa Trung Hải trở nên rất giàu có, là buôn bán bằng đường biển. Hàng hóa cồng kềnh có thể được vận chuyển dễ dàng và đáng tin cậy hơn trên một quãng đường dài bằng một con tàu, và những cánh buồm có thể thu năng lượng từ gió miễn phí. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tận dụng lợi thế của các vùng biển vì kỹ thuật vào thời điểm này vẫn còn hạn chế và các con tàu cũng bị hạn chế về số lượng hàng hóa chúng có thể chở, chở đến đâu và khi nào. Nhưng biển Địa Trung Hải tương đối yên tĩnh và dễ dàng cho việc điều khiển tàu thuyền. Những người sống dọc bờ biển này sẽ được kết nối với nhau bằng một trong những mạng lưới buôn bán lớn nhất và phức tạp nhất thời cổ đại, và khu vực này vẫn còn là một trung tâm thương mại cho đến tận ngày nay.
Những con sông có thể phục vụ cùng một mục đích. Ai Cập cổ đại là một ví dụ tuyệt vời. Nền văn minh này hoàn toàn phụ thuộc vào sông Nile để cung cấp thực phẩm và nước uống, và nền văn minh này sẽ không thể tồn tại nếu không có dòng sông Nile. Nhưng sông Nile cũng đại diện cho một tuyến đường thương mại đáng tin cậy và an toàn kết nối toàn bộ Ai Cập. Sông Nile vận chuyển tất cả, từ những khối đá, thức ăn, cho đến du khách, ý tưởng, trên những con thuyền bằng liễu gai. Đế chế Ai Cập cổ đại tồn tại hàng nghìn năm, và sông Nile là thứ đã mang lại cho nền văn minh này sự thống nhất về văn hóa, chính trị và kinh tế.
Nhưng ví dụ điển hình nhất về toàn cầu hóa trong lịch sử cổ đại là Con đường Tơ lụa. Đây là một tuyến đường thương mại bao gồm cả đường bộ và đường biển, kết nối các đế chế cổ đại của Trung Quốc (nhà Hán) với châu Âu (La Mã). Lụa là một trong những mặt hàng chính được buôn bán dọc theo tuyến đường, do đó mới có tên gọi là Con đường Tơ lụa. Do chiều dài lớn, thương mại qua Con đường Tơ lụa được thực hiện theo từng bước. Mỗi thương gia sẽ mua các mặt hàng của họ và mang theo trên đường, bán chúng lại cho các thương nhân khác tại các thành phố thương mại và sau đó quay trở về. Cứ thế, một nhà giao dịch mới sẽ đưa họ qua một đoạn đường khác, v.v. Đương nhiên, mỗi người sẽ cộng thêm tiền công vào giá bán, vì vậy chỉ những mặt hàng xa xỉ dành cho những người rất giàu mới được mua bán dọc theo tuyến đường.
Chúng ta có bằng chứng cho thấy lụa đã được người La Mã biết đến từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, thứ mang trên mình những người lính Parthia (đã bị giết và cướp bởi người lính La Mã). Điều này cho thấy rằng Con đường Tơ lụa đã được hình thành vào giai đoạn này, vì chỉ có Trung Quốc mới thực sự có khả năng sản xuất lụa với số lượng lớn vào thời ấy. Tuy nhiên, con đường này đã không bao giờ dẫn đến việc đế chế Trung Quốc và La Mã thực sự gặp nhau. Mặc dù cả hai đều cố gắng làm vậy, nhưng người Parthia vẫn can thiệp vào toàn bộ vụ việc, truyền bá thông tin sai lệch cho cả hai – người Parthia muốn tiếp tục đóng vai trò là người trung gian giữa hai bên vì công việc này đem lại của cải cho họ.
Trớ trêu thay, thương mại dọc theo Con đường Tơ lụa lại trở nên khó khăn dưới thời quân Mông Cổ. Mặc dù nổi tiếng là những kẻ chinh phục và kẻ cướp khát máu, đế chế Mông Cổ được vận hành rất nhịp nhàng. Các thương nhân dọc theo Con đường Tơ lụa đã được cấp những con dấu riêng để đảm bảo được bảo vệ trên suốt tuyến đường - tất nhiên là có tính phí. Hơi khó tin nhưng đúng là vậy, ngay từ thời kỳ đó, những con dấu đã thực sự đảm bảo cho một thương gia có thể di chuyển trên suốt tuyến đường và không bao giờ phải sợ kẻ cướp hoặc kẻ trộm.
Kỷ nguyên Khám phá (từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18) là kỷ nguyên gần nhất mà chúng ta tiếp cận với toàn cầu hóa trước cuộc Cách mạng Công nghiệp. Trong thời kỳ này, các con tàu chở đầy hàng hóa sẽ ra khơi, đi lại giữa Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự ra đời của Trao đổi Colombia, hoạt động chuyển giao lớn nhất trong lịch sử về văn hóa, động vật và các loài thực vật lớn. Vì việc vận chuyển hàng hóa trên quãng đường dài vẫn còn khá vất vả và mất nhiều thời gian nên chi phí vận chuyển trong giai đoạn này vẫn còn cao. Gia vị và các mặt hàng xa xỉ khác vẫn là những mặt hàng được giao dịch nhiều nhất, nhưng những mặt hàng số lượng lớn như bia hoặc nguyên liệu thô cũng bắt đầu được vận chuyển khắp nơi trên thế giới.
Còn tiếp…
Nguồn: ZME Science - TQ
Từ khóa: toàn cầu hóa, truyền bá thông tin, người trung gian, chi phí vận chuyển, nguyên liệu thô, giao dịch, khả năng sản xuất
Các tin khác
- Khủng hoảng bủa vây, doanh nghiệp Trung Quốc tìm cơ hội nơi 'đất lành' Đông Nam Á - 19/05/2021
- Tái cơ cấu xuất khẩu lúa gạo - 19/05/2021
- Kinh tế thế giới có thể đối mặt với lạm phát hậu Covid-19 - 19/05/2021
- Nông dân Philippines: Giảm thuế nhập khẩu gạo là 'trò đùa tàn nhẫn' - 18/05/2021
- Dư thừa công suất thép, Đông Nam Á giải quyết thế nào? - 18/05/2021






















