JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếTình trạng thiếu hụt chất bán dẫn – dấu chấm hết cho kỷ nguyên toàn cầu hóa

Tình trạng thiếu hụt chất bán dẫn – dấu chấm hết cho kỷ nguyên toàn cầu hóa

semiconductor shortages end an era of globalization 1050x700

Một năm kể từ khi nổ ra đại dịch COVID-19, cung và cầu trong nền kinh tế toàn cầu đều biến động bất thường. Vào đầu cuộc khủng hoảng, đã có một sự hoảng loạn về nguồn cung nhu yếu phẩm, khi những người tiêu dùng ích kỷ tích trữ giấy vệ sinh và nước đóng chai. Ngay sau đó, nhu cầu đối với các dịch vụ mặt-đối-mặt tại các nhà hàng, các cơ sở giải trí và các điểm bán lẻ cũng biến mất, dẫn đến tình trạng thất nghiệp lớn, khiến cho nhu cầu càng giảm thêm. Cùng lúc đó, chi tiêu dùng nói chung đã chuyển mạnh sang các loại hình dịch vụ dựa vào internet, làm giàu thêm 40% cho các tỷ phú Mỹ so với một năm trước. Số lượng nhân sự của Amazon cũng đã tăng gần gấp đôi để đáp ứng sự tăng vọt về nhu cầu này.

Bồi thêm bởi các gói kích thích kinh tế của Trump và Biden, những thay đổi trong đường cầu càng diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến các tình trạng thiếu hụt mới. Và loại hàng hóa tinh vi nhất đang bị thiếu hụt hiện nay chính là chip máy tính bán dẫn. Không khó để xác định lý do tại sao. Một số lượng lớn lao động cổ cồn trắng hiện làm việc tại nhà, vì vậy, nhu cầu về mua mới máy tính, webcam kỹ thuật số và các thiết bị khác tăng đột biến. Nhóm người này và nhiều người khác cũng có nhu cầu đối với TV và các thiết bị trò chơi điện tử để phục vụ nhu cầu giải trí. Ngoài ra, doanh số bán ô tô cũng tăng thẳng đứng, sau khi sụt giảm mạnh vào đầu đại dịch. Nhiều người trước đây đi lại bằng phương tiện công cộng nay đã chuyển sang ô tô và xe tải. Kết quả là, tình trạng thiếu chip máy tính chuyên dụng cho ô tô đang khiến toàn bộ dây chuyền lắp ráp xe tải của hãng General Motor ngưng trệ — và một số hãng khác thậm chí còn không tìm đâu ra nguồn cung ứng.

Với các gói kích thích khổng lồ của chính phủ để chống lại cuộc khủng hoảng này, cái gọi là kỷ nguyên của chính phủ nhỏ và toàn cầu hóa không giới hạn đã thực sự kết thúc. Tổng thống Biden đã ban hành lệnh hành pháp yêu cầu một cuộc điều tra đối với nền sản xuất Mỹ và cơ sở hạ tầng chuỗi cung ứng để bù đắp cho “đại dịch và các mối đe dọa sinh học khác, các cuộc tấn công mạng, các cú sốc khí hậu và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, các cuộc tấn công khủng bố, cạnh tranh địa chính trị và kinh tế”. Chính quyền Mỹ hiện đang thúc đẩy đầu tư 37 tỷ USD để hỗ trợ phục hồi ngành sản xuất chất bán dẫn trong nước, vốn được xem là xương sống của nền kinh tế công nghệ cao.

Toàn cầu hóa và vấn đề an ninh ở Đài Loan và Trung Quốc

Lịch sử của mạch tích hợp bán dẫn hay còn gọi là “chip máy tính” gắn liền với sự chuyển đổi của nền kinh tế toàn cầu vào cuối thế kỷ 20. Việc phát minh ra bóng bán dẫn vào năm 1947 đòi hỏi đầu tư rất lớn vào R&D, và sự tập trung chuyên môn khoa học như vậy chỉ có thể thực hiện được tại một cơ sở như Bell Labs. Công nghệ máy tính tiếp tục phát triển thêm bước nữa nhờ vào chiến tranh Lạnh – khi chính phủ đầu tư lớn vào ngành công nghiệp quốc phòng và cuộc chạy đua không gian. Để bảo vệ công nghệ hoàn toàn mới, độc quyền và rất tốn kèm này, các công ty bán dẫn đã tích hợp theo chiều dọc. Một công ty bán dẫn sẽ thực hiện toàn bộ các khâu: từ lên kế hoạch, thiết kế, sản xuất, đóng gói và thử nghiệm các sản phẩm của mình. Các công ty Nhật Bản và châu Âu đã tìm cách cạnh tranh với các gã khổng lồ của Mỹ trong lĩnh vực này vào giữa thế kỷ 20.

Nhưng những bước nhảy vọt về công nghệ này đã làm thay đổi mô hình kinh doanh của các công ty công nghệ khi chúng đang trên đà phát triển. Chip logic mạch tích hợp (IC) và CPU khai sinh ra máy tính cá nhân vào những năm 1980 đã khiến nhu cầu tăng vọt vượt quá khả năng sản xuất hiện có của các công ty thiết kế Mỹ. Vừa đúng lúc, sự ra đời của các kỹ thuật tồn kho mới và mạng viễn thông máy tính mới đã tạo thuận lợi cho việc chuyển giao sản xuất chip IC do Hoa Kỳ thiết kế cho các nước Đông Á.

Việc cắt giảm các quy định của chính phủ và nới lỏng các rào cản thương mại ở Mỹ đã cho phép xu hướng này gia tăng. Trớ trêu thay, chỉ những quốc gia có các hệ thống luật pháp mạnh và trợ cấp công nghiệp rộng rãi mới được trang bị tốt nhất để thực hiện công việc mà các công ty Mỹ muốn giao cho. Trong trường hợp chất bán dẫn, Đài Loan là nước đi đầu trong việc xây dựng các “xưởng đúc” chỉ dành cho sản xuất. Tập đoàn TSMC của Đài Loan hiện đang nắm giữ thị phần sản xuất chất bán dẫn lớn nhất toàn cầu (28%), theo sau là một công ty Đài Loan khác với thị phần 13%.

Một trong những diễn biến nguy hiểm nhất trong quá trình toàn cầu hóa chất bán dẫn trong những thập kỷ gần đây là sự cám dỗ không thể chống lại từ Trung Quốc. Ming-Chin Monique Chu lập luận vào năm 2008 rằng, làn sóng các công ty Hoa Kỳ và Đài Loan thuê các công ty Trung Quốc sản xuất vi mạch đã phát triển mạnh đến nổi đặt ra một thách thức an ninh nghiêm trọng cho cả ba quốc gia. Quân đội Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ từ lâu đã duy trì các biện pháp kiểm soát thương mại nghiêm ngặt đối với các hàng hóa được coi là “lưỡng dụng” (dùng cho cả mục đích quân sự và dân sự) từ Trung Quốc, chẳng hạn như chất bán dẫn. Chỉ vào những năm 2000, Mỹ và Đài Loan mới cho phép xuất khẩu máy móc chế tạo silicon sang Trung Quốc, nhưng chỉ ở trình độ công nghệ thấp hơn và cho các nhiệm vụ đòi hỏi kỹ năng thấp hơn.

Sự phối hợp chính sách này không có gì ngạc nhiên. Vì Mỹ vẫn là người bảo đảm an ninh quân sự cho Đài Loan. Tuy nhiên, ngành công nghiệp bán dẫn đã trở nên mạnh mẽ ở Đài Loan đến mức giới lãnh đạo doanh nghiệp ở hòn đảo này về cơ bản có thể thách thức các chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc của đất nước bằng cách phá bỏ những giới hạn còn lại, bao gồm việc bí mật thuê ngoài các chuyên gia Trung Quốc (với mức giá rẻ hơn) thực hiện các công việc R&D, che giấu cơ cấu vốn chủ sở hữu và thậm chí bí mật vận hành một số thiết bị bị cấm.

Kiểm soát công nghệ bán dẫn vẫn còn là mối quan ngại trong năm 2021. Lấy ví dụ, chỉ có một công ty Hà Lan là ASML chế tạo được máy quang khắc cực tím 5 nm tinh vi nhất. TSMC được sử dụng gần như độc quyền các máy này, mặc dù Hoa Kỳ đã can thiệp vào tháng 11 năm 2019 để ngăn ASML bán máy cho Trung Quốc. Theo nghĩa này, những lo ngại về bảo mật luôn ám ảnh tiến trình toàn cầu hóa của chip máy tính và là một trong những lý do tại sao một số công ty vẫn được hưởng quyền lực giống như độc quyền đối với một số lĩnh vực của ngành.

Lợi ích của ‘vốn xã hội’ khi đối mặt với thảm họa

Vi-rút corona chỉ là nguyên nhân thứ hai gây ra sự thiếu hụt chất bán dẫn trong thập kỷ qua. Trận động đất và sóng thần ở Nhật Bản ngày 11 tháng 3 năm 2011 đã khiến một số dây chuyền sản xuất ở Nhật Bản phải đóng cửa trong một khoảng thời gian. Đặc biệt, nhà máy sản xuất chất bán dẫn của tập đoàn Renesas bị hư hỏng nặng. Vì Renesas là nhà cung cấp cho các dây chuyền lắp ráp ô tô của Toyota và Nissan, sự đình trệ sản xuất của họ có nguy cơ làm dừng đột ngột các dây chuyền sản xuất ô tô ở cả Nhật Bản và trên toàn thế giới. George Olcott và Nick Oliver giải thích rằng sở dĩ các tập đoàn Nhật Bản có thể phục hồi nhanh chóng sau thảm họa này, bất chấp các chuỗi cung ứng phức tạp, là bởi vì văn hóa tương trợ lẫn nhau của người Nhật hay còn gọi là “vốn xã hội”.

Có những mối quan hệ văn hóa và xã hội bền chặt như vậy giữa ban quản lý của Renesas và các khách hàng của mình, khi có khoảng 200 đến 400 khách hàng của Renesas đã cử công nhân đến hỗ trợ và đề nghị hỗ trợ một phần chi phí khắc phục cho Renesas. Hơn nữa, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã điều phối các nỗ lực cứu trợ, ưu tiên nguồn lực nhằm đưa các dây chuyền lắp ráp trong toàn ngành trở lại hoạt động nhanh nhất và công bằng nhất có thể. Họ cũng giúp đào tạo cho những người cứu trợ khẩn cấp về các kỹ thuật duy trì một phòng sạch, điều mà có thể còn chưa được áp dụng trong nhà máy của chính họ. Cuối cùng, Renesas sẵn sàng từ bỏ việc bảo mật thông tin sản xuất và kết quả nghiên cứu với rất nhiều người lạ tại hiện trường.

Các công ty Nhật Bản đã đi tiên phong trong phương thức quản lý hàng tồn kho Just-in-time (vừa kịp lúc) và chuỗi cung ứng “tinh gọn” trong những năm 1970 và 1980. Phần còn lại của thế giới đã áp dụng kỹ thuật này nhưng không được hưởng các khía cạnh bổ sung đó là văn hóa kinh doanh hợp tác của người Nhật. Olcott và Oliver tin rằng bây giờ là lúc để kết hợp khía cạnh này trong việc lập kế hoạch giữa các đối tác kinh doanh trong một thế giới ngày càng không chắc chắn.

Từ bỏ “sự tinh gọn” để có khả năng phục hồi

Các nhà nghiên cứu kinh tế và chính sách đối ngoại hiện đang trải qua một cuộc cách mạng trí tuệ liên quan đến chi phí và lợi ích của toàn cầu hóa. Cho đến rất gần đây, các tổ chức này thường ủng hộ các khái niệm tân tự do rằng thị trường tự do, hàng tồn kho thấp và giảm quy định của chính phủ sẽ mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các công ty và lợi ích xã hội lớn nhất về lâu dài. Trong bối cảnh khủng hoảng COVID019, biến đổi khí hậu và căng thẳng ngày càng gia tăng với Nga và Trung Quốc, các nhà nghiên cứu này hiện đang đặt nền kinh tế toàn cầu vào một khuôn khổ địa chính trị thực dụng hơn, đồng thời nhấn mạnh việc lập kế hoạch và ngoại giao để có thể phục hồi kinh tế về dài hạn là quan trọng hơn so với lợi nhuận trong ngắn hạn.

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Hague (HCSS) đã đưa ra một loạt các biện pháp để Hà Lan và EU xem xét lựa chọn nhắm khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn cung do COVID-19 và ngăn ngừa các vấn đề tương tự trong tương lai. Họ tin rằng một mức độ “chủ nghĩa dân tộc về tài nguyên” một lần nữa là cần thiết - cho rằng các quốc gia không chỉ thịnh vượng từ GDP hay thu thuế, mà từ việc có quyền tiếp cận nhất quán với hàng hóa, vì điều này sẽ cho phép doanh nghiệp của họ tiếp tục hoạt động. Quan điểm này bao gồm khuyến khích hội nhập theo chiều dọc trong các ngành công nghiệp, đầu tư vào dự trữ chiến lược, và thậm chí áp đặt lại hạn ngạch xuất khẩu, thuế quan và cấp phép mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, quan trọng không kém việc tăng cường nguồn lực trong nước là đa dạng hóa nguồn hàng và các mối quan hệ thương mại, nghĩa là giảm sự phụ thuộc tổng thể vào sản xuất của Trung Quốc, và có lẽ đổi lại là chi phí lao động cao hơn. Nhưng một chiến lược quốc gia cũng có thể xây dựng một mạng lưới các nguồn ở các nước đồng minh để có thể hỗ trợ lẫn nhau bằng các nguồn lực bổ sung trong thời gian khủng hoảng. Như trong trường hợp của Nhật Bản ở trên, các chuyên gia khuyến nghị nên phối hợp các liên minh ngoại giao trên cơ sở từng ngành.

Cuối cùng, HCSS khuyến nghị rằng các chính sách quốc gia nên một lần nữa khuyến khích R&D trong nước để đảm bảo lợi nhuận bền vững trong thời gian dài. Đây là giải pháp cuối cùng cho sự bế tắc trong xu hướng kinh doanh của những thập kỷ gần đây khi tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn chỉ dựa vào việc cắt giảm chi phí. Các quốc gia như Trung Quốc trước đây chỉ tập trung vào sản xuất hiện đang chuyển sang tự thiết kế. Để duy trì tính cạnh tranh và trở nên hiệu quả hơn trong một thế giới có nguồn lực hạn chế, các công ty Mỹ và châu Âu sẽ phải học theo những người đi trước hồi giữa thế kỷ 20.

Nguồn: JSTOR Daily

Từ khóa: vốn xã hội, khả năng phục hồi, hạn ngạch thuế quan, thiếu hụt nguồn cung, thời gian khủng hoảng

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795919
Go to top