JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếBình luận: Đừng quá vội vàng mà xem nhẹ những lợi ích kinh tế của RCEP đối với Đông Nam Á

Bình luận: Đừng quá vội vàng mà xem nhẹ những lợi ích kinh tế của RCEP đối với Đông Nam Á

qua ngot fta 13.4.21

Giám đốc Điều hành Trung tâm Thương mại Châu Á của Singapore Tiến sĩ Deborah Elms cho biết việc cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, điều có lợi cho Trung Quốc, thường được đánh giá quá cao trong những báo cáo đánh giá tác động, trong khi việc giảm các rào cản tác động đến các dịch vụ, vốn có lợi cho ASEAN, lại chưa được chú trọng.

SINGAPORE: Tác động kinh tế của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đối với các nước tham gia là gì?

Các quốc gia thành viên ASEAN hiện đang xem xét lại câu hỏi này sau khi một báo cáo mới đây của Ủy ban Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD) cho rằng RCEP có thể gây hại cho nhiều nước trong khu vực.

Báo cáo được công bố cách đây hai tuần cho rằng nếu cam kết với RCEP, các nước ASEAN sẽ chứng kiến cán cân thương mại suy giảm do có khả năng các nước này sẽ nhập khẩu nhiều hàng hóa từ các nước thành viên RCEP còn lại, đặc biệt là Trung Quốc, quốc gia có thể được hưởng lợi từ chuyển hướng thương mại, vì là nhà xuất khẩu hiệu quả hơn.

Các kết luận của báo cáo này có khả năng không chính xác. ASEAN sẽ tìm thấy các kích thích kinh tế mới từ việc trở thành một phần của hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới với 15 thành viên trên khắp châu Á.

Các mô hình đánh giá tác động thường khó cho ra kết quả tốt

Thường thì, xây dựng mô hình không tốt sẽ dẫn đến những đánh giá xấu về tác động của các hiệp định thương mại. Nhưng để có được những những ước tính tốt về tác động của bất kỳ thỏa thuận thương mại nào còn khó hơn nhiều.

Thông thường, yếu tố dễ dàng nhất của một hiệp định thương mại tự do (FTA) để xem xét và đo lường là việc cắt giảm thuế quan. Tất cả các FTA đều nhằm giảm thuế quan tại biên giới như một cách giúp mang lại lợi ích cho các thành viên tham gia và hạ thấp chi phí cho hàng hóa. Việc giảm thuế quan sẽ kích thích dòng chảy thương mại lớn hơn.

Không phải mọi hàng hóa đủ điều kiện để được cắt giảm thuế quan sẽ thực sự tận dụng được những lợi ích này. Sản phẩm phải được sản xuất phù hợp với tiêu chí xuất xứ của từng hiệp định thương mại và phải đáp ứng một mức độ hàm lượng nội địa nhất định.

Ví dụ, xà phòng rửa tay có chứa tỷ lệ phần trăm hàm lượng nhập khẩu cao có thể không đủ điều kiện để được hưởng mức thuế ưu đãi theo hiệp định.

Ngay cả khi một sản phẩm đủ tiêu chuẩn, các công ty vẫn phải xin thì mới được cấp mức thuế suất thấp hơn vì các ưu đãi của FTA không tự động áp dụng.

Do đó, chưa có FTA nào đạt được tự do hóa hoàn toàn về thuế quan, tức là tất cả hàng hóa nhập khẩu vào một nước thành viên FTA đều được miễn hoặc giảm thuế.

Tuy nhiên, các mô hình kinh tế thường giả định rằng mọi hàng hóa có khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ và đang nằm trong dòng chảy thương mại được thống kê hiện nay sẽ đều thu được lợi ích thuế quan được hứa hẹn trong thỏa thuận, dù là ít hay nhiều.

Các mô hình đánh giá tác động cũng thường dựa trên các số liệu thương mại hiện có. Nói cách khác, để đo lường tác động kinh tế của việc cắt giảm và xóa bỏ thuế quan, một mô hình đánh giá tác động thường bắt đầu từ thông tin thương mại hiện có. Tuy nhiên, một điểm chính của FTA là mở ra các cơ hội thương mại mới và cải thiện các hiệp định hoặc khuôn khổ thương mại hiện có.

Các sản phẩm đã từng phải đối mặt với các mức thuế lớn khó có thể hiển thị trong các báo cáo chi tiết về giao dịch thương mại hiện tại hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở giá trị nhỏ.

Ví dụ, nếu dầu gội đầu, hải sản đông lạnh hoặc đồ ngủ trẻ em bị tính thuế 15% đến 20% trước khi có FTA, thì các công ty sản xuất những mặt hàng này có thể sẽ không bán được nhiều. Nếu thuế quan giảm, các công ty có thể đột nhiên tìm thấy nhu cầu mới đáng kể trên thị trường đối tác.

Nhưng các luồng thương mại mới như dầu gội đầu, thủy sản hoặc quần áo sẽ không xuất hiện trong mô hình kinh tế của các FTA hiện tại, như cách mà UNCTAD đã làm, vì đây là những lợi ích mới sẽ chỉ phát huy tác dụng về sau.

Tác động kinh tế của việc giảm thuế quan có thể đã bị thổi phồng quá mức

Việc xác định tác động của RCEP hay bất kỳ FTA nào cũng phụ thuộc vào các điều kiện hiện có, theo nhiều cách.

Các chính phủ châu Á, bao gồm cả các thành viên ASEAN, đã tham gia nhiệt tình vào các FTA.

Bản thân RCEP được xây dựng trên cơ sở 5 hiệp định thương mại mà ASEAN hiện có với từng nước đối tác. 5 hiệp định này được gộp chung lại và thiết kế lại thành một hiệp định duy nhất. Hiện nay, có hàng trăm loại thỏa thuận thương mại khác nhau xuyên khu vực từ các cam kết song phương cho đến các thỏa thuận khu vực lớn.

Do đó, lợi ích của RCEP - ngay cả khi chỉ đánh giá việc cắt giảm thuế quan - phụ thuộc vào việc so sánh RCEP với các thỏa thuận thương mại hiện có khác.

Các doanh nghiệp có thể đã được hưởng ưu đãi miễn thuế đối với các sản phẩm của họ theo các FTA khác, chẳng hạn như FTA ASEAN-Trung Quốc. Các mô hình kinh tế chỉ xem xét tác động đơn lẻ của RCEP, như nghiên cứu của UNCTAD đã thực hiện, do đó, sẽ không thể nắm bắt hết mức độ phức tạp này.

Ngoài ra, tất cả các FTA đều bao gồm các cam kết theo từng giai đoạn. Nói cách khác, không phải mọi hàng hóa đều được cắt giảm thuế quan ngay lập tức mà theo lộ trình cụ thể.

Do đó, việc so sánh lợi ích của FTA với các cam kết RCEP đòi hỏi phải đánh giá kỹ lưỡng về thời điểm. Mặc dù ngay khi RCEP có hiệu lực, ưu đãi theo RCEP có thể không bằng các FTA hiện có, nhưng sau khi RCEP được thực thi đầy đủ, sự khác biệt có thể là đáng kể.

Thuế quan luôn được chú trọng trong các mô hình kinh tế vì chúng dễ thấy và dễ tính nhất. Nhưng RCEP, giống như các FTA toàn diện khác, bao gồm nhiều điều hơn là chỉ cắt giảm thuế quan.

Chỉ riêng việc RCEP giúp tinh gọn thủ tục hải quan đã có thể có tác động lớn đến một doanh nghiệp hơn là việc cắt giảm thuế quan, vì chi phí chậm trễ ở biên giới có thể khá cao và thường ảnh hưởng đến lợi nhuận ròng của doanh nghiệp hơn là sự điều chỉnh thuế suất.

Cam kết về thực hiện hồ sơ thương mại trực tuyến hoặc cam kết thông quan nhanh trong vòng 6 giờ hóa ra lại là điểm quan trọng nhất của RCEP đối với nhiều doanh nghiệp.

Các cam kết về thương mại dịch vụ và đặc biệt là các cam kết đầu tư trong RCEP cũng rất quan trọng, nhưng lại khó để lượng hóa bằng mô hình. Dữ liệu về thương mại dịch vụ không lớn. Đặc biệt, rất khó để đo lường tác động của việc tiếp cận thị trường mới hay như việc cải thiện bảo hộ đầu tư.

Làm thế nào một mô hình có thể quyết định đâu là lợi ích cho các kiến ​​trúc sư cảnh quan hoặc nhà cung cấp giáo dục mầm non hoặc nhà thiết kế đồ họa khi tiếp cận thị trường được cải thiện? Và quy định đầu tư rõ ràng hơn có giá trị như thế nào?

Mặc dù các công ty đánh giá cao nhiều yếu tố trong RCEP, nhưng mô hình kinh tế do UNCTAD thực hiện lại hạn chế hoặc bỏ qua các khía cạnh này của hiệp định, điều này không cho phép một bên có được cái nhìn toàn diện về những lợi ích tổng thể do RCEP cung cấp.

Nói tóm lại, rõ ràng RCEP sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho các quốc gia thành viên tham gia. Việc nắm bắt và định lượng chính xác khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại đối với bất kỳ thành viên nhất định hoặc lĩnh vực cụ thể nào là rất khó đạt được.

Các mô hình kinh tế tuyên bố có thể làm được điều đó cũng chỉ nên được xem là để tham khảo.

Nguồn: Channel News Asia - TQ

Từ khóa: lợi ích của RCEP, Đông Nam Á

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795787
Go to top