JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếỞ Mỹ, ‘thương mại tự do’ không còn là sự thật tuyệt đối

Ở Mỹ, ‘thương mại tự do’ không còn là sự thật tuyệt đối

merlin 184814172 2473d2ff b290 47d1 aec0 0ddf5a208492 superJumbo

Giống như chính quyền tiền nhiệm, chính quyền mới của Tổng thổng Mỹ Biden phần lớn bỏ qua ý tưởng lấy ‘tự do thương mại’ làm mục tiêu.

WASHINGTON - Trong nhiều thập kỷ, nguyên tắc “thương mại tự do” đã truyền cảm hứng cho một loại tín ngưỡng trong hầu hết các chính trị gia Hoa Kỳ. Từ các nhà lập pháp, nhà ngoại giao cho đến tổng thống đều điều chỉnh chính sách của mình theo hướng việc theo đuổi thương mại tự do nhiều hơn. Cũng giống như dân chủ và chủ nghĩa tư bản thị trường, “thương mại tự do” cũng được coi là một mục tiêu phổ quát và xứng đáng.

Nhưng khi chính quyền Biden tiếp quản, sự thật lâu đời đó đã bị thất thế.

Các đảng phái chính trị ở cả cánh hữu và cánh tả đã thoát khỏi quan điểm truyền thống rằng mục tiêu chính của chính sách thương mại là tăng tốc độ lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thay vào đó, nhiều chính trị gia đã tập trung vào những mặt trái của các thỏa thuận thương mại trong quá khứ, vốn mang lại lợi ích lớn cho một số công nhân Mỹ nhưng lại tước đi công việc của những người khác.

Tổng thống Donald J. Trump đã ủng hộ xét lại quan điểm của Mỹ về thương mại tự do bằng cách đe dọa hủy bỏ các thỏa thuận cũ mà ông cho rằng đã gửi việc làm ra nước ngoài và đàm phán lại các thỏa thuận mới. Các thỏa thuận mà ông đã đặt bút ký, bao gồm thỏa thuận với Canada, Mexico và Trung Quốc, rốt cuộc đã nâng cao một số rào cản đối với thương mại thay vì hạ thấp chúng, bao gồm việc để lại các mức thuế cao đối với các sản phẩm của Trung Quốc và hạn chế hơn đối với nhập khẩu ô tô vào Bắc Mỹ.

Bà Tai đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các đồng nghiệp cũ trong Quốc hội, cả đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, và hôm thứ Tư, Thượng viện Mỹ thông qua quyết định bổ nhiệm bà làm đại diện thương mại trong một cuộc bỏ phiếu với kết quả 98-0, khiến bà trở thành người đầu tiên được ông Biden đề cử giành được sự ủng hộ tuyệt đối từ Quốc hội.

Ông Biden và các cố vấn của ông đã hứa sẽ xem xét lại tác động của các chính sách thương mại trong quá khứ đối với bất bình đẳng kinh tế và chủng tộc, đồng thời đưa vào tầm ngắm việc đàm phán các thỏa thuận thương mại mới, trong khi vẫn tập trung cải thiện kinh tế trong nước. Tuy nhiên, chính quyền Biden vẫn chưa thực hiện bất kỳ động thái nào để giảm bớt mức thuế quan khổng lồ mà ông Trump đã ban hành đối với các sản phẩm nhập khẩu. Mặc dù cho biết đang xem xét lại các mức thuế, chính quyền Biden đồng thời cũng nhấn mạnh rằng thuế quan là một công cụ chính sách thương mại hợp lý.

Trong phiên điều trần trước Ủy ban Tài chính Thượng viện vào ngày 25/2/2021, bà Tai nhấn mạnh rằng bà sẽ giúp tạo ra sự đột phá đối với các chính sách trước đây mà có thể sẽ khiến “một bộ phận người lao động và một bộ phận kinh tế đối chọi với một bộ phận lao động khác và một bộ phận kinh tế khác”.

Trong khi bà Tai trấn an các thượng nghị sĩ rằng bà sẽ làm việc với họ để thúc đẩy xuất khẩu cho các quận mà họ đại diện, bà kêu gọi xây dựng một chính sách tập trung hơn vào cách thức thương mại ảnh hưởng đến người Mỹ với tư cách là người lao động và người làm công ăn lương.

Khi được Thượng nghị sĩ Patrick J. Toomey, một đảng viên Đảng Cộng hòa từ Pennsylvania và là một thương nhân tự do hỏi liệu bà có đồng tình rằng mục tiêu của một hiệp định thương mại giữa hai nền kinh tế hiện đại phát triển là loại bỏ thuế quan và các rào cản thương mại, bà Tai trả lời là không đồng tình, và nói rằng bà sẽ xem xét lại các hiệp định kiểu như vậy trong từng trường hợp cụ thể.

“Có thể nếu bạn hỏi tôi câu hỏi này cách đây 5 hoặc 10 năm, tôi sẽ có xu hướng trả lời là có,” bà Tai trả lời. Nhưng sau những sự kiện trong vài năm qua - bao gồm đại dịch, cuộc chiến thương mại của chính quyền Trump và nỗ lực thất bại của chính quyền Obama để đàm phán một thỏa thuận thương mại Thái Bình Dương - “Tôi nghĩ rằng các chính sách thương mại của chúng ta cần phải có nhiều sắc thái và cần phải tính đến tất cả những bài học mà chúng ta đã có, mà phần nhiều trong số đó là những bài học rất đau đớn”.

Trong bài phát biểu đầu tiên của mình với tư cách ngoại trưởng Mỹ về chính sách đối ngoại vào ngày 3 tháng 3 năm nay, Ngoại trưởng Antony J. Blinken cũng cho biết cách nghĩ về thương mại tự do đã thay đổi.

Ông nói: “Vài người trong số chúng tôi trước đây đã ủng hộ các hiệp định thương mại tự do bởi vì chúng ta tin rằng lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ rộng rãi cho người Mỹ. “Nhưng chúng tôi đã chưa có cái nhìn đầy đủ về những đối tượng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực từ thương mại tự do và điều gì là cần thiết để bù đắp nỗi đau cho họ.”

Ông Blinken kết lại: “Cách tiếp cận của chúng tôi bây giờ sẽ khác”.

Clyde Prestowitz, một nhà đàm phán Hoa Kỳ thời chính quyền Reagan, gọi những tuyên bố về thương mại của chính quyền Biden là “một cuộc cách mạng”. Ông Prestowitz cho biết, mặc dù Robert E. Lighthizer, đại diện thương mại trước đây dưới thời ông Trump, cũng từ bỏ quan điểm truyền thống về thương mại nhưng điều đó lại dễ hiểu vì bản thân ông Lighthizer là một cựu luật sư ngành thép có quan điểm bảo hộ.

“Còn lần này là bà Tai, một người đã dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp phục vụ cho chính phủ, cũng đã quay lưng với cách hiểu truyền thống về thương mại”, ông Prestowitz nói. “Cách hiểu thông thường về thương mại không còn có là cú đấm thép của các nhà hoạch định chính sách và nhà tư tưởng”.

Giống như bà Tai và ông Lighthizer, nhiều tổng thống và quan chức thương mại trong quá khứ đã nhấn mạnh đến thương mại công bằng và ý tưởng yêu cầu nước ngoài phải chịu trách nhiệm về việc vi phạm các quy tắc thương mại. Nhưng nhiều người cũng bày tỏ sự kính trọng đối với quan điểm truyền thống rằng bản thân thương mại tự do xứng đáng là một mục tiêu vì nó có thể giúp nâng cao vận mệnh kinh tế của tất cả các quốc gia và tăng cường sự ổn định toàn cầu bằng cách liên kết các nền kinh tế lại với nhau.

Cách hiểu đó đã đạt đến đỉnh điểm của sự đồng thuận dưới thời tổng thống George H.W. Bush, Bill Clinton và George W. Bush, thời điểm mà Hoa Kỳ đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), dẫn dắt các cuộc đàm phán để thành lập nên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) như ngày này, trao cho Trung Quốc các mối quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn và ký kết một loạt các thỏa thuận thương mại với các nước ở Châu Mỹ Latinh, Châu Phi và Trung Đông.

Tổng thống Barack Obama ban đầu ít chú trọng đến các thỏa thuận thương mại tự do, thay vào đó tập trung vào cuộc khủng hoảng tài chính và Đạo luật Chăm sóc Y tế. Nhưng trong nhiệm kỳ thứ hai, chính quyền của Obama đã thúc đẩy ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), vốn vấp phải sự chỉ trích từ các đảng viên Đảng Dân chủ tiến bộ vì để công nhân Mỹ cạnh tranh với nước ngoài. Thỏa thuận trên đã không bao giờ giành đủ số phiếu ủng hộ trong Quốc hội Mỹ để trở thành hiện thực.

Đối với đảng Dân chủ, sự sụp đổ của TPP là một bước ngoặt, thúc đẩy họ tiến tới sự đồng thuận mới về thương mại. Một số người, như Dani Rodrik, giáo sư kinh tế chính trị tại Harvard, cho rằng các thỏa thuận thương mại gần đây phần lớn không phải là cắt giảm thuế quan hay các rào cản thương mại, mà thay vào đó là tập trung vào việc tạo lợi thế cho các công ty dược phẩm và ngân hàng quốc tế.

David Autor, một nhà kinh tế học tại Viện Công nghệ Massachusetts, cho biết lý thuyết kinh tế chưa bao giờ tuyên bố rằng thương mại làm cho mọi người trở nên tốt hơn – mà chỉ nói rằng thương mại sẽ nâng cao sản lượng kinh tế tổng thể, nhưng lợi nhuận và thiệt hại sẽ khác nhau giữa các nhóm khác nhau.

Tuy nhiên, các nhà kinh tế và chính trị gia đều xem nhẹ mức độ ảnh hưởng của tổn thất. Nghiên cứu của ông Autor cho thấy việc mở rộng thương mại với Trung Quốc dẫn đến việc Mỹ mất đi 2,4 triệu việc làm từ năm 1999 đến năm 2011. Sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc đối với nhiều ngành công nghiệp toàn cầu, thường được thực hiện thông qua các khoản trợ cấp khổng lồ của chính phủ, cũng làm suy yếu lập luận rằng Hoa Kỳ có thể thành công thông qua các thị trường tự do.

Ngày nay, “mọi người nhạy cảm hơn nhiều với ý tưởng rằng thương mại có thể gây ra những tác động rất, rất đột phá,” ông Autor nói. “Không có mức giá thấp hàng ngày nào tại Walmart có thể bù đắp cho tình trạng thất nghiệp.”

Nhưng ông Autor nói rằng mặc dù sự đồng thuận cũ là “đơn giản và có hại”, nhưng việc quay lưng lại với lý tưởng thương mại tự do cũng gây nguy hiểm, vì “rất nhiều chính sách khủng khiếp và các khoản trợ cấp khổng lồ có thể tung ra cùng một lúc dưới danh nghĩa bảo vệ người lao động Mỹ”.

Một số khác thì lập luận rằng cách tiếp cận này có thể mang lại những lợi ích kinh tế quan trọng.

William Reinsch, chủ tịch Scholl về kinh doanh quốc tế tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, đã viết rằng người Mỹ nhận ra rằng lập luận rằng “nước dâng thì thuyền dâng” không phải lúc nào cũng đúng.

“Thủy triều dâng không nâng được mọi con thuyền; nó chỉ nâng được một số thuyền, và trong một thời gian dài, thuyền của người lao động sẽ bị mắc kẹt, trong khi du thuyền của người chủ thì được tự do,” ông viết. Tuy nhiên, ông Reinsch cũng nói thêm rằng, dù sao thì có lợi ích vẫn hơn không. Về phương diện kinh tế, nếu chúng ta bỏ qua việc mở rộng thương mại, chúng ta sẽ không nhận được lợi ích nào từ thương mại cả, trước khi tính đến chuyện phân phối lợi ích sao cho đồng đều đó.

Vẫn còn phải xem liệu chính quyền Biden sẽ bám theo các chính sách bảo hộ của chính quyền Trump đến mức nào – ví dụ như việc giữ nguyên thuế quan đối với thép và nhôm hay các mức thuế đối với Trung Quốc.

Trong khi chính quyền Biden đã cố gắng tách biệt chính sách thương mại của mình với chính sách của chính quyền trước đó, nhiều cựu quan chức chính quyền Trump nói rằng hướng đi có vẻ giống nhau một cách đáng kể.

Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 1, ông Lighthizer cho biết chính quyền Trump đã định hướng lại chính sách thương mại khỏi lợi ích của các doanh nghiệp đa quốc gia và Phòng Thương mại Hoa Kỳ, mà hướng tới tầng lớp lao động và sản xuất, những mục tiêu mà đảng Dân chủ cũng ủng hộ. Ông cho biết chính quyền Biden cố gắng làm cho chính sách thương mại mang đặc trưng riêng, nhưng rốt cuộc “vẫn khá bám sát” chính sách của Trump.

“Mục tiêu là tạo ra các cộng đồng và gia đình của những người lao động, thay vì thúc đẩy lợi nhuận của công ty,” ông Lighthizer nói. “Tôi nghĩ rằng những gì chúng tôi đã làm được sẽ vẫn tồn tại. Họ sẽ cố gắng cải tiến nó, biến nó thành của riêng họ, đó là điều họ nên làm, nhưng tôi sẽ ngạc nhiên nếu họ quay lưng lại với bản phác thảo tuyệt vời về những gì chúng tôi đã làm và cách chúng tôi đã thay đổi chính sách.”

Bà Tai đã thừa nhận một số điểm tương đồng giữa các mục tiêu của chính quyền Biden và Trump, nhưng nhấn mạnh sự khác biệt trong chiến thuật của họ.

Trong phiên điều trần phê chuẩn của mình, bà nói rằng bản thân cũng chia sẻ với mục tiêu đưa chuỗi cung ứng trở lại Mỹ của chính quyền Trump, nhưng các chính sách của chính quyền cũ đã tạo ra “rất nhiều sự gián đoạn và tàn phá”.

“Tôi muốn hoàn thành các mục tiêu tương tự theo cách hiệu quả hơn, và theo quy trình,” cô nói.

Nguồn: The New York Times

Từ khóa: tách biệt chính sách thương mại, doanh nghiệp đa quốc gia, đặc trưng riêng, mục tiêu đưa chuỗi cung ứng trở lại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795739
Go to top